ƯỚC MƠ LỚNHỌC ĐÚNG NƠI • ĐẾN ĐÚNG BÀI
NGỮ VĂN 6–12 • ĐỌC CÓ BẰNG CHỨNG • VIẾT CÓ TIẾNG NÓI RIÊNGTHPT • PHẢN BIỆN & NGHỊ LUẬN • TỰ BIÊN SOẠN

ƯỚC MƠ LỚNXƯỞNG ĐỌC & VIẾT

Trang chủ
NGỮ VĂN 11 • CHƯƠNG 2 • ĐÃ THẨM ĐỊNH NỘI DUNG

Truyện ngắn hiện đại

Câu chuyện đổi khi điểm nhìn dịch chuyển

Sự thay đổi điểm nhìn khiến ta hiểu nhân vật và sự thật ra sao?

Chương học buộc người đọc theo dõi ai thấy, ai biết, ai nói và điều gì đang bị khuất trong từng cảnh. Học sinh phân tích điểm nhìn bằng chênh lệch thông tin, sửa lỗi câu đúng mức và nhận ra khi nào một câu phá chuẩn là dụng ý nghệ thuật chứ không phải lỗi sơ suất.

Bắt đầu đọcĐến xưởng viết
NỀN CẦN CÓ
  • Phân biệt tác giả, người kể chuyện và nhân vật.
  • Nhận ra người kể toàn tri, hạn tri và tác dụng cơ bản của điểm nhìn.
  • Phân tích một chi tiết truyện bằng vị trí, cách kể, tác dụng và chủ đề.
Nếu còn hổng, ôn nhanh phần này trước; không học vượt bằng cách đoán thuật ngữ.
SAU CHƯƠNG, EM LÀM ĐƯỢC
  • Theo dõi được không gian, thời gian, sự kiện và phần thông tin mỗi nhân vật nắm giữ.
  • Phân tích tác dụng của điểm nhìn toàn tri, hạn tri và sự dịch chuyển điểm nhìn.
  • Tách lời người kể, lời đối thoại, độc thoại nội tâm và lời nửa trực tiếp.
  • Sửa lỗi thiếu thành phần, nhập nhằng chủ thể; nhận ra phá vỡ quy tắc có dụng ý.
  • Viết bài phân tích truyện và đoạn bình luận một lựa chọn điểm nhìn.
PHÒNG ĐỌC • 3 NGỮ LIỆU CÓ RANH GIỚI NGUỒN

Đọc một lượt, rồi mới mở câu hỏi

Không sao chép sách giáo khoa. Mỗi ngữ liệu chỉ mở đúng thao tác của lớp 11 và ghi rõ ranh giới thể loại, nguồn dân gian hoặc phần tự biên soạn.

ĐỌC 1 • TRUYỆN NGẮN TỰ BIÊN SOẠN01

Chiếc hộp cơm trên bàn trực

Truyện do website tự biên soạn. Người kể ngôi thứ ba bám chủ yếu vào điểm nhìn của An; nhân vật, trường học và sự việc đều hư cấu.

Cuối tiết bốn, An nhìn thấy một chiếc hộp cơm inox đặt trên bàn trực. Quai hộp quấn sợi dây xanh đã sờn. Chỉ bố em mới buộc nút lệch như thế. An quay mặt đi trước khi cô trực kịp gọi. Sáng nay, em đã nói đủ to rằng mình không cần bố mang cơm đến trường ‘như trẻ con’. Vậy mà bố vẫn đến.

Suốt giờ nghỉ, chiếc hộp cơm nằm trong đầu An nhiều hơn bài kiểm tra vừa nhận. Em hình dung bố mặc chiếc áo công nhân bạc vai, dựng xe trước cổng, hỏi tên lớp rồi đứng chờ giữa bao ánh mắt. Tại sao bố không hiểu một việc đơn giản? An nhét tờ bài kiểm tra bảy điểm xuống đáy cặp. Chút bực bội vô cớ tìm được một chỗ để bám.

Khi An trở lại bàn trực, chiếc hộp đã được mở. Bên trong không có cơm, chỉ có một túi thuốc, một chai nước ấm và mảnh giấy: ‘Gửi bác Tư bảo vệ. Em nghe anh ho nhiều, ca trưa không người đổi nên gửi anh thuốc. An đi ngang thì cầm hộ bố chiếc hộp về.’ Cô trực đưa thêm cho em tờ phiếu giao hàng. Bố đã ghé trường chưa đầy hai phút rồi đi tiếp.

An cầm chiếc hộp, ngón tay lần đúng nút dây lệch. Em nhớ ra bác Tư đã cho mình trú mưa dưới mái gác tuần trước. Ở cửa lớp, một bạn hỏi: ‘Nhà gửi cơm à?’ An định nói không. Nhưng em đáp: ‘Bố tớ gửi thuốc cho bác bảo vệ.’ Câu nói nghe bình thường; chỉ có vai em bỗng nhẹ đi một chút.

Ba câu hỏi đáng hỏi

1Thông tin nào bị giữ lại khiến An và người đọc cùng hiểu sai?+

Gợi đường: Liệt kê điều An nhìn thấy trước khi đọc mảnh giấy và điều chỉ xuất hiện khi hộp được mở.

Đáp án tham khảo: Ban đầu An chỉ nhận ra chiếc hộp, sợi dây và thói quen buộc nút của bố; em không biết người nhận và thứ bên trong. Mảnh giấy cùng túi thuốc mới cho biết hộp dành cho bác Tư. Việc giữ lại mục đích chuyến ghé tạo khoảng trống để An suy đoán.

2Câu ‘Chút bực bội vô cớ tìm được một chỗ để bám’ cho thấy lời kể gần với ai?+

Gợi đường: Xem câu này mô tả một sự kiện bên ngoài hay cách trạng thái trong An vận động.

Đáp án tham khảo: Lời kể đi sát nội tâm An, nhận ra nỗi bực từ bài kiểm tra và sự ngượng ngùng đang bám vào hành động của bố. Đây không phải kết luận khách quan về bố mà là cách điểm nhìn hạn tri làm lộ cơ chế phán đoán của nhân vật.

3Câu trả lời cuối của An đánh dấu thay đổi nào?+

Gợi đường: So với ý định quay mặt và phủ nhận ở đầu truyện; chú ý em nói gì trước bạn.

Đáp án tham khảo: An không còn che giấu việc bố đến trường. Em nói đúng mục đích bố gửi thuốc, qua đó chuyển từ ngượng ngùng, quy kết sang thừa nhận một hành động tử tế. Thay đổi được thể hiện bằng lời nói nhỏ, không bằng một bài tự thú dài.

ĐỌC 2 • HAI PHIÊN BẢN MỘT SỰ VIỆC02

Mười phút ngoài phòng y tế

Hai lời kể do website tự biên soạn. Chúng không nhằm xác định ai ‘nói thật hơn’ mà giúp theo dõi kinh nghiệm khác nhau trong cùng một khoảng thời gian hư cấu.

Huy kể: ‘Tôi chạy đến khi cửa phòng y tế vừa đóng. Mai ngồi tựa tường, tay ôm đầu gối, không nói. Tôi hỏi ba lần có sao không; bạn chỉ lắc đầu. Tôi nghĩ Mai giận vì lúc thi chạy tôi đã vượt lên mà không chờ. Tôi ngồi cách bạn hai viên gạch, định xin lỗi nhưng sợ nói sai. Mười phút ấy dài khủng khiếp.’

Mai kể: ‘Tôi chóng mặt sau khi về đích. Cô y tế bảo ngồi ngoài chờ cô lấy máy đo. Huy chạy tới, thở còn gấp hơn tôi. Bạn hỏi liên tục làm tôi không kịp trả lời, nên chỉ lắc đầu để Huy đỡ lo. Thấy bạn ngồi xuống, tôi muốn nói cảm ơn nhưng miệng khô. Tôi không hề nghĩ tới chuyện ai vượt ai.’

Cùng một hành lang có cửa đóng, hai viên gạch cách nhau và một cái lắc đầu. Với Huy, chúng trở thành dấu hiệu của giận dỗi; với Mai, đó là lúc cơ thể chưa hồi lại. Sự kiện không đổi, nhưng ý nghĩa mà mỗi người gắn vào nó khác vì điều họ biết về người kia ít hơn điều họ biết về chính mình.

Ba câu hỏi đáng hỏi

1Ba chi tiết nào xuất hiện ở cả hai lời kể nhưng được hiểu khác?+

Gợi đường: Tìm vật, cử chỉ hoặc khoảng thời gian chung; sau đó nói nghĩa trong từng phiên bản.

Đáp án tham khảo: Cửa phòng y tế đóng, cái lắc đầu và việc Huy ngồi cách Mai hai viên gạch đều có ở hai bản. Huy coi sự im lặng là giận, còn Mai lắc đầu vì chóng mặt và muốn bạn bớt lo; khoảng cách với Huy là sự dè dặt, với Mai là sự hiện diện giúp đỡ.

2Vì sao lời kể ngôi thứ nhất tạo độ tin cậy gần gũi nhưng vẫn có giới hạn?+

Gợi đường: Mỗi người biết rõ điều gì và đoán điều gì về người còn lại?

Đáp án tham khảo: Huy và Mai kể trực tiếp cảm giác, suy nghĩ của mình nên lời kể có vẻ gần. Nhưng họ chỉ nhìn hành vi bên ngoài của người kia và phải suy đoán. Ngôi ‘tôi’ bảo đảm trải nghiệm chủ quan được nghe, không bảo đảm mọi diễn giải đều đúng.

3Nếu người kể toàn tri nói ngay Mai bị chóng mặt, trải nghiệm đọc sẽ đổi thế nào?+

Gợi đường: Nghĩ xem hiểu lầm của Huy còn gây bất ngờ hay khiến người đọc tự kiểm tra phán đoán nữa không.

Đáp án tham khảo: Người đọc sẽ biết trước Huy hiểu sai và theo dõi anh như người đứng ngoài. Hai lời kể song song hiện tại khiến ta lần lượt sống trong mỗi giới hạn, nhận ra một cử chỉ có thể mang nghĩa khác khi điểm nhìn đổi.

ĐỌC 3 • DỊCH CHUYỂN ĐIỂM NHÌN03

Người đứng ngoài khung hình

Truyện do website tự biên soạn. Người kể ngôi thứ ba dịch điểm nhìn từ Vy sang ông Phúc; việc chuyển được đánh dấu bằng khoảng trắng và thay đổi trường cảm nhận.

Vy dựng điện thoại trên bậc đá, gọi cả đội bóng rổ đứng sát nhau. Tấm ảnh đầu thiếu một người; tấm thứ hai vẫn thiếu. Ông Phúc bảo vệ cứ lùi ra sau cột, tay cầm chùm chìa khóa. Vy nghĩ ông ngại máy ảnh. Cô kéo rộng góc, nhưng ông lại cúi xuống nhặt chai nước nằm dưới sân.

Sau khi mọi người về, Vy xem lại ảnh. Ở mép tấm cuối chỉ có một bàn tay đang kéo tấm lưới bị tuột. ‘Lúc nào bác ấy cũng tránh,’ cô nói, rồi chọn bức không có bàn tay vì bố cục gọn hơn.

Ông Phúc không tránh máy ảnh. Ông đã nhìn thấy móc lưới bật khỏi khung từ lúc đội xếp hàng. Nếu buông tay, tấm lưới sẽ rơi vào cậu bé đứng hàng sau. Ông định gọi, nhưng tiếng đếm ‘ba, hai, một’ đã vang lên. Chùm chìa khóa mắc vào túi; ông chỉ kịp lùi, giữ lưới rồi cúi nhặt chai để không ai giẫm phải.

Sáng hôm sau, Vy thấy móc lưới mới được buộc bằng một sợi dây màu đen. Cô mở lại tấm ảnh có bàn tay ở mép, không cắt nó đi nữa. Tấm ảnh vẫn không có gương mặt ông Phúc, nhưng từ lúc ấy, Vy biết người đứng ngoài khung hình chưa chắc là người đứng ngoài câu chuyện.

Ba câu hỏi đáng hỏi

1Đoạn đầu giới hạn người đọc trong cách hiểu của Vy bằng những dấu hiệu nào?+

Gợi đường: Tìm các động từ chỉ điều Vy thấy, nghĩ và chọn; xem mục đích của ông Phúc đã được nói chưa.

Đáp án tham khảo: Người đọc chỉ thấy ông lùi, cúi, cầm chìa khóa và nghe suy nghĩ ‘ông ngại máy ảnh’ của Vy. Mục đích giữ lưới chưa được mở, nên ta có xu hướng nhận cách hiểu của Vy làm lời giải tạm thời.

2Điểm nhìn chuyển sang ông Phúc đã giải nghĩa lại hai hành động nào?+

Gợi đường: Đối chiếu ‘lùi ra sau cột’, ‘cúi nhặt chai’ ở hai phần.

Đáp án tham khảo: Ông lùi để giữ tấm lưới có thể rơi vào học sinh, không phải để tránh chụp; ông cúi nhặt chai để không ai giẫm phải. Hành động không đổi, nhưng mục đích được mở khiến đánh giá về nhân vật đổi.

3Hình ảnh ‘bàn tay ở mép ảnh’ góp gì cho chủ đề?+

Gợi đường: Nó vừa là chi tiết thực trong ảnh vừa gợi vị trí của một đóng góp như thế nào?

Đáp án tham khảo: Bàn tay ghi lại việc giữ lưới dù gương mặt người làm không xuất hiện. Nó gợi những đóng góp ở ngoài trung tâm chú ý. Việc Vy giữ lại tấm ảnh cho thấy cô đã sửa cách nhìn về người thường đứng ngoài khung.

TIẾNG VIỆT TRONG NGỮ CẢNH

Học ngay nơi chữ tạo nghĩa

Nhận diện chỉ là bước đầu. Mỗi mục đều buộc thử thay, so nghĩa hoặc sửa cách dùng.

LAB

Câu thiếu thành phần hay câu rút gọn?

Câu độc lập trong văn viết thường cần nòng cốt phù hợp. Câu rút gọn chỉ chấp nhận khi ngữ cảnh cho phép khôi phục rõ và mục đích giao tiếp hợp lí; thiếu chủ thể khiến người đọc không biết ai làm là lỗi.

  • Lỗi: ‘Khi xem lại tấm ảnh. Vy hiểu ra.’ Vế ‘Khi…’ không đứng thành câu độc lập trong cách viết này.
  • Sửa: ‘Khi xem lại tấm ảnh, Vy hiểu ra.’
  • Trong đối thoại, ‘Không sao.’ có thể là câu rút gọn vì người nghe khôi phục được ý ‘Tôi không sao’.
LAB

Giữ chủ thể rõ khi nhiều người cùng xuất hiện

Đại từ và thành phần phụ phải bám đúng chủ thể. Khi ‘bạn ấy’, ‘cô ấy’, ‘người đó’ có thể chỉ nhiều người, cần gọi lại tên hoặc đổi cấu trúc.

  • Mơ hồ: ‘Mai gặp Lan khi cô ấy vừa ra khỏi phòng.’
  • Rõ theo ý 1: ‘Khi Mai vừa ra khỏi phòng, bạn gặp Lan.’
  • Rõ theo ý 2: ‘Mai gặp Lan lúc Lan vừa ra khỏi phòng.’
LAB

Phá vỡ quy tắc có dụng ý

Nhà văn có thể dùng câu đặc biệt, lặp, ngắt nhịp hoặc im lặng để mô phỏng cảm giác và tạo điểm nhấn. Gọi là dụng ý khi hình thức phù hợp tình huống, có quy luật và đem lại hiệu quả; sơ suất không tự thành nghệ thuật.

  • ‘Ba, hai, một.’ là chuỗi rút gọn mô phỏng lời đếm trong cảnh chụp ảnh.
  • ‘Tấm thứ nhất thiếu. Tấm thứ hai vẫn thiếu.’ nhịp lặp làm sự vắng mặt nổi lên.
  • Nếu toàn bài liên tục thiếu chủ ngữ khiến người đọc lạc, đó có thể là lỗi chứ không phải ‘phong cách’.
XƯỞNG VIẾT • KHÔNG HỌC THUỘC VĂN MẪU

Viết bài phân tích tác dụng của điểm nhìn trong truyện

Viết khoảng 600–700 chữ phân tích cách điểm nhìn hạn tri tổ chức hiểu lầm và sự thay đổi của An trong ‘Chiếc hộp cơm trên bàn trực’. Đây là truyện tự biên soạn; không suy rộng thành nhận xét về mọi gia đình.

  1. 1Định vị
  2. 2Chốt hiệu quả
  3. 3Theo trường biết
  4. 4Chỉ chỗ khuất
  5. 5Mở bước ngoặt
  6. 6Đọc lại chi tiết
  7. 7Giới hạn
DÀN Ý CÓ NHIỆM VỤ

Mỗi phần phải làm một việc

01Mở: nêu tình huống, điểm nhìn bám vào An và tác dụng trung tâm.

02Luận điểm 1: trường quan sát hẹp khiến An và người đọc cùng suy đoán.

03Luận điểm 2: lời kể gần nội tâm làm lộ nguyên nhân tâm lí của phán đoán.

04Luận điểm 3: mảnh giấy mở thông tin và buộc các chi tiết cũ đổi nghĩa.

05Luận điểm 4: câu nói cuối thể hiện thay đổi bằng hành động nhỏ.

06Kết: đánh giá điểm nhìn và giới hạn của ngữ liệu hư cấu.

BẢN THAM KHẢO CÓ CHÚ GIẢI

Bản tham khảo: Một chiếc hộp, hai cách hiểu

Đọc để nhìn quyết định viết. Không chép câu và không coi đây là đáp án duy nhất.

‘Chiếc hộp cơm trên bàn trực’ bắt đầu bằng một vật quen nhưng đặt người đọc vào một cách hiểu chưa đầy đủ. Người kể ngôi thứ ba không biết ít hơn thế giới truyện, song chủ yếu cho ta thấy điều An thấy, nhớ và đoán. Nhờ điểm nhìn hạn tri ấy, hiểu lầm về chuyến ghé trường của người bố không chỉ là một nút bất ngờ. Nó trở thành con đường để người đọc nhận ra phán đoán có thể bị cảm xúc và phần thông tin còn thiếu dẫn đi như thế nào.

Trường quan sát ban đầu rất hẹp. An thấy hộp inox, sợi dây xanh đã sờn và nút buộc lệch. Ba dấu hiệu đủ giúp em nhận ra đồ của bố, nhưng chưa cho biết người nhận hay thứ nằm bên trong. Người kể không rời An để báo trước rằng hộp dành cho bác Tư. Vì vậy, câu ‘Vậy mà bố vẫn đến’ nghe gần như một kết luận hợp lí. Người đọc dễ đứng cùng vị trí với An: lấy một vật quen cộng với kí ức buổi sáng để hoàn tất câu chuyện còn trống.

Điểm nhìn không chỉ giới hạn thông tin bên ngoài mà còn đưa ta đến gần quá trình tự biện hộ trong nhân vật. An hình dung áo công nhân bạc vai, cảnh bố hỏi tên lớp và những ánh mắt có thể nhìn mình. Tất cả đều là hình dung, chưa phải việc đã xảy ra. Chi tiết bài kiểm tra bảy điểm bị nhét xuống đáy cặp mở thêm một nguyên nhân: em đang thất vọng và ngượng với chính mình. Câu ‘chút bực bội vô cớ tìm được một chỗ để bám’ cho thấy nỗi khó chịu về bố có phần là nơi một cảm xúc khác trú vào. Nhờ lời kể gần nội tâm, An không bị giản lược thành một đứa con xấu tính; người đọc thấy cả sai lầm lẫn cơ chế tạo ra sai lầm.

Bước ngoặt xảy ra khi chiếc hộp được mở. Túi thuốc, chai nước ấm và mảnh giấy lần lượt trả lời ba điều còn thiếu: bên trong có gì, gửi cho ai, vì sao bố ghé. Tờ phiếu giao hàng còn sửa hình dung rằng bố đứng lâu trước cổng; ông chỉ dừng chưa đầy hai phút rồi đi tiếp. Những dữ kiện mới không xóa các chi tiết cũ mà bắt ta đọc lại chúng. Sợi dây sờn và nút lệch ban đầu gắn với sự quê ngượng, giờ trở về như dấu vết của một người cha bận rộn vẫn nhớ cơn ho của bác bảo vệ.

Phần kết không dùng một lời xin lỗi dài. Khi bạn hỏi ‘Nhà gửi cơm à?’, An có cơ hội phủ nhận như lúc em quay mặt ở đầu truyện. Nhưng em nói: ‘Bố tớ gửi thuốc cho bác bảo vệ.’ Câu trả lời chỉ thuật đúng sự việc, song chính việc không giấu bố cho thấy cảm giác xấu hổ đã nhường chỗ cho sự thừa nhận. Động tác lần theo nút dây lệch trước đó cũng đổi nghĩa: An không còn nhìn nó như dấu hiệu vụng về cần che, mà như một nét quen thuộc của người bố vừa làm một việc tử tế.

Từ một chiếc hộp, truyện tạo ra hai cách hiểu và để người đọc đi hết quãng chuyển giữa chúng. Hiệu quả ấy thuộc về việc lựa chọn điểm nhìn: thấy qua mắt An, nghe gần suy nghĩ An, rồi mở đúng lúc phần An chưa biết. Tuy nhiên, đây là ngữ liệu hư cấu dùng để luyện đọc; nó không chứng minh mọi hiểu lầm gia đình đều có nguyên nhân giống nhau. Điều có thể mang theo là một thao tác: trước khi kết luận về người khác, hãy nhìn xem câu chuyện của mình còn chiếc hộp nào chưa được mở.

ĐẦU RA THỨ HAI • THỰC HÀNH CHUYỂN GIAO

Bình luận một lựa chọn điểm nhìn

Viết khoảng 350–400 chữ trả lời: nếu ‘Mười phút ngoài phòng y tế’ chỉ được kể bằng lời Huy, câu chuyện được gì và mất gì? Dùng chi tiết của cả hai phiên bản để bình luận.

  1. 01Chốt phương án giả định.
  2. 02Nêu hiệu quả nhận được.
  3. 03Chỉ thông tin bị mất.
  4. 04Dùng hai chi tiết đối chiếu.
  5. 05Đánh giá theo mục đích kể.
  6. 06Không tuyên bố có một cách kể tốt tuyệt đối.
Bản tham khảo cân cả cái được và cái mất, rồi đánh giá theo mục đích nghệ thuật; không biến lựa chọn điểm nhìn thành câu hỏi đúng–sai đơn giản.
TỰ BIÊN TẬP • Ý → MẠCH → CÂU → CHỮ
Ô đánh dấu chỉ giúp tự kiểm trên thiết bị này; website không lưu hay tuyên bố bài đã đạt thay giáo viên.
NÓI VÀ NGHE

Trình bày 4 phút bản đồ điểm nhìn của một cảnh truyện và trả lời câu hỏi phản biện.

  1. 01

    Nêu văn bản và cảnh.

  2. 02

    Xác định người kể.

  3. 03

    Gọi nhân vật đang giữ điểm nhìn.

  4. 04

    Liệt kê điều được thấy–biết và điều bị khuất.

  5. 05

    Chỉ dấu mốc dịch chuyển nếu có.

  6. 06

    Đánh giá tác động đến người đọc.

CỔNG LUYỆN • 13 CÂU

85% trong chương, 15% nền cũ

11 câu giữ đúng kiến thức vừa học; 2 câu gọi lại nền cũ cần dùng. Không có kiến thức của chương sau.

01

Nền cũPhân biệt tác giả với người kể chuyện.

+
Đáp án và cách kiểm:

Tác giả là người sáng tạo tác phẩm; người kể là vai phát ngôn được tổ chức trong văn bản và có thể mang điểm nhìn, hiểu biết riêng.

02

Kiến thức chươngAn biết chắc gì khi mới thấy chiếc hộp?

+
Đáp án và cách kiểm:

Đó là hộp của bố vì sợi dây và nút buộc quen; em chưa biết bên trong có gì hoặc gửi cho ai.

03

Kiến thức chươngChi tiết bài kiểm tra bảy điểm giải thích điều gì?

+
Đáp án và cách kiểm:

Cho thấy An đang thất vọng, nỗi bực có thể bám vào hành động của bố và làm phán đoán lệch.

04

Kiến thức chươngMảnh giấy trong hộp làm đổi nghĩa nút dây ra sao?

+
Đáp án và cách kiểm:

Từ dấu khiến An ngượng, nút dây trở thành nét quen của người bố đã gửi thuốc cho bác bảo vệ.

05

Kiến thức chươngTrong hai lời kể phòng y tế, sự kiện nào không đổi?

+
Đáp án và cách kiểm:

Mai ngồi ngoài phòng, lắc đầu; Huy hỏi và ngồi cách hai viên gạch. Điều đổi là cách mỗi người diễn giải.

06

Kiến thức chươngNgôi ‘tôi’ đáng tin ở mặt nào và giới hạn ở đâu?

+
Đáp án và cách kiểm:

Đáng tin về trải nghiệm chủ quan người kể trình bày; giới hạn ở việc họ không biết trọn suy nghĩ và hoàn cảnh của người khác.

07

Kiến thức chươngDấu mốc chuyển điểm nhìn trong ‘Người đứng ngoài khung hình’?

+
Đáp án và cách kiểm:

Sau khoảng trắng, lời kể rời cách nhìn của Vy để mở điều ông Phúc thấy và lí do ông lùi, cúi.

08

Kiến thức chương‘Bàn tay ở mép ảnh’ có hai lớp nghĩa nào?

+
Đáp án và cách kiểm:

Là bàn tay thật đang giữ lưới và gợi một đóng góp quan trọng nhưng nằm ngoài trung tâm chú ý.

09

Kiến thức chươngSửa câu: ‘Khi chiếc hộp được mở. An im lặng.’

+
Đáp án và cách kiểm:

‘Khi chiếc hộp được mở, An im lặng.’ Vế phụ thuộc không nên tách thành câu trong ngữ cảnh này.

10

Kiến thức chươngSửa mơ hồ: ‘Vy gặp Mai khi cô vừa xem ảnh.’

+
Đáp án và cách kiểm:

Tùy ý: ‘Sau khi Vy xem ảnh, cô gặp Mai’ hoặc ‘Vy gặp Mai khi Mai vừa xem ảnh’.

11

Kiến thức chươngKhi nào câu đặc biệt là dụng ý?

+
Đáp án và cách kiểm:

Khi phù hợp tình huống, có quy luật và tạo hiệu quả nhịp, cảm giác hoặc điểm nhấn có thể giải thích bằng văn bản.

12

Kiến thức chươngPhân tích điểm nhìn cần theo bốn câu hỏi nào?

+
Đáp án và cách kiểm:

Ai thấy? Ai biết? Ai nói? Điều gì bị khuất hoặc chỉ được mở ở thời điểm nào?

13

Nền cũĐiểm nhìn hạn tri khác ngôi kể thế nào?

+
Đáp án và cách kiểm:

Ngôi kể là vị trí xưng hô; điểm nhìn là vị trí tri giác và hiểu biết. Ngôi thứ ba vẫn có thể bám hạn tri vào một nhân vật.

CHO HỌC SINH

Em dùng ba màu: sự kiện thấy được, suy nghĩ của nhân vật, thông tin mở sau. Nếu một nhận xét không tô được màu bằng câu chữ, đó có thể mới là ấn tượng.

CHO PHỤ HUYNH

Có thể cùng con kể lại một việc gia đình từ hai người chứng kiến rồi hỏi phần nào là sự kiện, phần nào là cách hiểu. Đừng dùng hoạt động để ép con nhận lỗi ngoài bài học.

CHO GIÁO VIÊN

Cho học sinh vẽ ‘camera tri giác’ theo từng đoạn, nhưng luôn quay lại ngôn từ. Chấm tác dụng điểm nhìn qua chênh lệch thông tin, không chấp nhận câu gọi tên ngôi kể rồi khen chung.

NGUỒN & RANH GIỚI

Đúng chương trình, không khóa cứng theo một bộ sách

Trục năng lực được đối chiếu Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018. Ngữ liệu trên trang do website tự biên soạn hoặc ghi rõ là ngữ liệu dân gian để luyện thao tác, không sao chép sách giáo khoa và không thay thế kế hoạch giáo dục của nhà trường.

Mở Chương trình GDPT môn Ngữ văn ↗