- Nêu được một ý kiến và giải thích bằng ít nhất một lí do cụ thể.
- Phân biệt sự việc trong văn bản với nhận xét của người đọc.
- Biết viết đoạn có câu chủ đề, dẫn chứng và câu giải thích.
ƯỚC MƠ LỚNXƯỞNG ĐỌC & VIẾT
Trang chủXã hội • Văn học • Bản thân
Bài nghị luận là một cuộc thuyết phục
Người đọc cần được dẫn từ vấn đề đến kết luận qua những nấc nào?
Chương học tách rõ ý kiến, luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng; đồng thời chỉ ra cảm xúc, câu chuyện cá nhân và lời văn chỉ có sức nặng khi phục vụ lập luận. Học sinh viết ba kiểu bài khác nhau mà không học thuộc một chiếc khung duy nhất.
- Xác định luận đề, hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận.
- Nhận ra mục đích, quan điểm, đối tượng thuyết phục và vai trò đúng mức của yếu tố biểu cảm.
- Đánh giá độ tin cậy, liên quan và đầy đủ của bằng chứng; biết xử lí ý kiến khác.
- Liên kết đoạn; trích dẫn trực tiếp, gián tiếp và ghi cước chú ở mức phù hợp lớp 10.
- Viết nghị luận xã hội, phân tích tác phẩm và bài luận thuyết phục hoặc bài luận về bản thân.
Đọc một lượt, rồi mới mở câu hỏi
Không sao chép sách giáo khoa. Mỗi ngữ liệu chỉ mở đúng thao tác của lớp 10 và ghi rõ ranh giới thể loại, nguồn dân gian hoặc phần tự biên soạn.
Xin đừng cất tủ sách vào kho
Văn bản và tình huống do website tự biên soạn để luyện đọc lập luận. Tên trường, biên bản, số liệu trong thư đều thuộc tình huống giả định; không được dẫn lại như dữ kiện của một trường có thật.
Kính gửi Ban phụ trách thư viện, chúng em được biết tủ sách ở hành lang tầng hai có thể được chuyển vào kho vì sách thường đặt sai ngăn và ba cuốn đã bị rách bìa. Những bất tiện ấy cần được xử lí. Tuy nhiên, cất cả tủ sách sẽ làm mất một điểm đọc gần lớp học, trong khi nguyên nhân chính nằm ở cách sử dụng chưa có người hướng dẫn.
Theo sổ theo dõi giả định của câu lạc bộ, trong mười ngày có 62 lượt lấy sách tại tủ; 47 lượt diễn ra trong giờ nghỉ ngắn, khi học sinh không đủ thời gian xuống thư viện. Con số này chưa chứng minh mọi lượt đọc đều sâu, nhưng cho thấy vị trí hành lang đang đáp ứng một nhu cầu có thật trong tình huống. Ba cuốn rách cần được sửa; chúng không đủ để kết luận toàn bộ mô hình không thể vận hành.
Chúng em đề nghị thử lại trong bốn tuần: dán nhãn màu cho từng ngăn, đặt một hộp trả sách, phân công hai bạn kiểm tra cuối ngày và ghi số sách sai chỗ hoặc hư hỏng. Sau bốn tuần, nếu số sách sai ngăn không giảm và tình trạng hư hỏng tiếp tục, việc chuyển tủ sẽ có căn cứ rõ hơn. Ngược lại, nếu cách tổ chức mới hiệu quả, nhà trường giữ được điểm đọc mà không xem nhẹ việc bảo quản.
Một tủ sách chung không thể chỉ dựa vào lời nhắc ‘hãy có ý thức’. Nó cần quy trình đủ đơn giản để người dùng làm đúng và dữ liệu đủ rõ để người quản lí đánh giá. Vì vậy, chúng em mong được phép thực hiện đợt thử nghiệm, chịu trách nhiệm ghi chép trung thực và báo cáo kết quả thay vì bảo vệ tủ sách chỉ bằng sự yêu thích của mình.
Ba câu hỏi đáng hỏi
1Luận đề của lá thư là gì?+
Gợi đường: Đừng chép câu ‘chúng em thích đọc’. Hãy tìm điều người viết muốn người có thẩm quyền chấp thuận.
Đáp án tham khảo: Người viết đề nghị chưa cất tủ sách vào kho mà cho phép thử một quy trình quản lí mới trong bốn tuần, rồi quyết định bằng kết quả theo dõi.
2Bằng chứng ‘62 lượt, 47 lượt’ được dùng thận trọng ở điểm nào?+
Gợi đường: Chú ý câu ngay sau số liệu và ranh giới của tình huống.
Đáp án tham khảo: Người viết chỉ xem số lượt là dấu hiệu về nhu cầu sử dụng vị trí hành lang, không suy thành mức độ đọc sâu. Văn bản cũng ghi số liệu thuộc tình huống giả định, nên không thể dùng ngoài bài như thống kê thật.
3Vì sao đề xuất bốn tuần có sức thuyết phục hơn lời kêu gọi giữ tủ sách?+
Gợi đường: Tìm người chịu trách nhiệm, việc phải làm và điều kiện đánh giá sau thử nghiệm.
Đáp án tham khảo: Đề xuất biến mong muốn thành hành động có thời hạn, người phụ trách, cách ghi chép và tiêu chí quyết định. Nó cũng thừa nhận khả năng thử nghiệm thất bại, cho thấy người viết quan tâm giải pháp hơn việc thắng bằng mọi giá.
Cảm xúc đứng ở đâu trong một lập luận?
Hai đoạn do website biên soạn từ bài thơ tự biên soạn ‘Qua sân ga sớm’ ở Chương 3. Mục đích là so sánh cách khen chung với cách phân tích bằng chứng, không xác lập một cách hiểu duy nhất.
[Đoạn A] Câu thơ về tiếng còi rất hay và vô cùng xúc động. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật độc đáo làm người đọc bồi hồi, xao xuyến. Qua đó, ta thấy tình cảm chia tay thật sâu sắc và càng thêm yêu quý bài thơ.
[Đoạn B] Hình ảnh ‘chiếc còi khâu một đường mềm vào sương’ biến âm thanh thành một đường nét có thể nhìn và gần như có thể chạm. Động từ ‘khâu’ gợi việc nối hai mép đang rời nhau, trong khi tiếng còi lại báo đoàn tàu sắp đi. Sức gợi của câu thơ nảy sinh từ thế căng ấy: sự chia xa đã bắt đầu nhưng cảm xúc vẫn muốn níu một đường liên hệ.
Đoạn A có thái độ yêu thích nhưng chưa giúp người đọc kiểm tra lời khen ‘hay’, ‘độc đáo’ dựa trên đâu. Đoạn B không giấu cảm nhận; nó đặt cảm nhận sau việc đọc từ ngữ và quan hệ giữa hình ảnh với tình huống. Cảm xúc vì vậy trở thành kết quả của phân tích, chứ không phải tấm màn che chỗ thiếu bằng chứng.
Ba câu hỏi đáng hỏi
1Đoạn A thiếu nấc nào giữa bằng chứng và kết luận?+
Gợi đường: Tìm xem đoạn đã chỉ từ ngữ cụ thể và giải thích cơ chế tạo nghĩa chưa.
Đáp án tham khảo: Đoạn A chưa dẫn đúng chữ cần phân tích và chưa giải thích cách biện pháp nghệ thuật tạo cảm xúc. Nó đi thẳng từ lời khen đến kết luận nên người đọc khó kiểm tra.
2Đoạn B có luận điểm và hai lí lẽ nào?+
Gợi đường: Đặt lại câu đầu thành nhận định; sau đó theo ‘khâu’ và tiếng còi báo tàu đi.
Đáp án tham khảo: Luận điểm: hình ảnh tạo sức gợi về liên hệ trong chia xa. Lí lẽ thứ nhất, câu thơ chuyển âm thanh thành đường nét và xúc giác; lí lẽ thứ hai, ‘khâu’ muốn nối trong khi tiếng còi báo rời đi, tạo một thế căng giàu cảm xúc.
3Vì sao nói cảm xúc trong Đoạn B là kết quả của phân tích?+
Gợi đường: Theo trật tự: chữ → quan hệ → cảm nhận.
Đáp án tham khảo: Đoạn B bắt đầu từ các từ ‘còi’, ‘khâu’, ‘đường mềm’, chỉ ra sự đối lập giữa nối và rời rồi mới gọi cảm giác níu giữ. Cảm xúc có đường dẫn bằng ngôn từ, không đứng thay phần giải thích.
Chỗ trống trong bản kế hoạch
Bài luận do website tự biên soạn. Nhân vật ‘tôi’ và sự việc đều hư cấu; văn bản dùng để luyện cách biến trải nghiệm thành suy ngẫm, không phải mẫu hồ sơ tuyển sinh.
Tôi từng nghĩ người có trách nhiệm là người viết được bản kế hoạch thật kín. Trong lần phụ trách một buổi đổi sách, tôi chia thời gian đến từng mười phút, ghi tên từng bạn và in đủ ba bản danh sách. Tôi chỉ không dành một dòng nào cho câu hỏi: nếu trời mưa thì làm gì.
Sáng hôm ấy, mưa tạt vào hành lang, số bàn kê ngoài sân phải chuyển hết vào phòng. Tôi vẫn cầm bản kế hoạch, gọi mọi người làm đúng vị trí cũ. Các bạn nhìn nhau; một người đề nghị bỏ khu trưng bày để dành lối đi, tôi gạt đi vì ‘không có trong kế hoạch’. Mười lăm phút trôi qua, những thùng sách vẫn nằm giữa cửa.
Cô phụ trách không giành lấy công việc. Cô hỏi: ‘Mục tiêu của buổi này là giữ nguyên sơ đồ hay để mọi người đổi được sách?’ Câu hỏi làm tôi nhận ra mình đã biến phương tiện thành mục đích. Tôi xin cả nhóm dừng hai phút, vẽ lại lối đi, gộp hai bàn và bỏ phần trang trí. Buổi đổi sách bắt đầu muộn nhưng không bị hủy.
Sau hôm ấy, trong mọi bản kế hoạch của tôi đều có một ô để trống, ghi ‘điều kiện thay đổi – người được quyền quyết định’. Ô trống không phải dấu hiệu của sự chuẩn bị sơ sài. Nó nhắc tôi rằng trách nhiệm không chỉ là giữ điều mình đã viết; trách nhiệm còn là nhìn xem thực tế đang cần mình sửa điều gì.
Ba câu hỏi đáng hỏi
1Bài luận không kể sự việc chỉ để chứng minh ‘tôi đã thành công’ ở điểm nào?+
Gợi đường: Theo sai lầm, hậu quả, câu hỏi của cô và thay đổi về sau.
Đáp án tham khảo: Người viết thừa nhận bản kế hoạch thiếu phương án, sự cứng nhắc làm công việc đình lại và phải nhờ câu hỏi của cô mới nhận ra. Trọng tâm là cách hiểu về trách nhiệm được sửa, không phải tô đẹp thành tích.
2Câu hỏi của cô phụ trách làm nhiệm vụ lập luận gì?+
Gợi đường: Phân biệt mục tiêu với phương tiện.
Đáp án tham khảo: Câu hỏi đặt hai khả năng cạnh nhau để lộ sự lẫn lộn: sơ đồ chỉ là phương tiện, còn mục tiêu là để mọi người đổi sách. Nó tạo bước ngoặt cho nhận thức và hành động của nhân vật.
3Hình ảnh ‘ô để trống’ mang nghĩa nào ở cuối bài?+
Gợi đường: Đừng hiểu là không lập kế hoạch. Hãy nối với điều kiện thay đổi và quyền quyết định.
Đáp án tham khảo: Ô trống tượng trưng cho sự chuẩn bị có khả năng thích ứng: dự liệu điều kiện có thể đổi và xác định ai được điều chỉnh. Nó ghi lại bài học rằng trách nhiệm gồm cả kỉ luật lẫn năng lực sửa phương án trước thực tế.
Học ngay nơi chữ tạo nghĩa
Nhận diện chỉ là bước đầu. Mỗi mục đều buộc thử thay, so nghĩa hoặc sửa cách dùng.
Liên kết đoạn bằng quan hệ ý
Mỗi đoạn đảm nhiệm một nấc lập luận; câu chuyển phải cho thấy quan hệ bổ sung, nguyên nhân, đối lập, nhượng bộ hoặc kết quả. Từ nối chỉ hữu ích khi quan hệ ý đã có thật.
- Nhượng bộ: ‘Ba cuốn sách bị rách là vấn đề cần xử lí. Tuy nhiên, dữ kiện ấy chưa đủ để kết luận cả tủ sách phải đóng.’
- Kết quả: ‘Vì phương án có thời hạn và tiêu chí theo dõi, quyết định sau thử nghiệm sẽ có căn cứ hơn.’
- Chuyển đoạn không cần câu khuôn ‘qua đó ta thấy’; có thể nhắc lại đúng từ khóa của luận điểm trước.
Trích dẫn để người đọc kiểm lại
Dẫn trực tiếp giữ nguyên chữ trong ngoặc kép; dẫn gián tiếp thuật lại đúng ý. Cả hai đều phải nêu nguồn đủ để người đọc biết lời của ai, ở đâu; không cắt câu làm đổi nghĩa.
- Trực tiếp: Nhân vật ‘tôi’ thừa nhận mình ‘không dành một dòng nào’ cho phương án trời mưa.
- Gián tiếp: Người viết cho rằng ô trống trong kế hoạch là cách dự liệu thay đổi, không phải sự cẩu thả.
- Khi chỉ cần một phần câu, dùng dấu […] và kiểm tra phần lược bỏ không làm lệch quan điểm.
Cước chú và thông tin bên lề
Cước chú giải thích thuật ngữ, bản văn hoặc nguồn mà nếu đưa vào thân bài sẽ làm đứt mạch. Đánh số thống nhất và ghi vừa đủ; luận điểm chính vẫn phải nằm trong bài.
- [1] ‘Qua sân ga sớm’, ngữ liệu tự biên soạn, Ngữ văn 10, Chương 3, Ước Mơ Lớn.
- Có thể dùng cước chú để cho biết số liệu trong thư là giả định luyện tập.
- Danh mục nguồn cuối bài khác cước chú: nó tập hợp đầy đủ các tài liệu đã dùng.
Viết bài nghị luận xã hội có phương án hành động
Viết khoảng 600–700 chữ thuyết phục một nhóm học tập thử dành mười phút đầu buổi để xác định mục tiêu, chia việc và thống nhất thời điểm được dùng điện thoại. Không kêu gọi cấm điện thoại tuyệt đối; cần xử lí ít nhất một ý kiến khác.
- 1Gọi đúng vấn đề
- 2Chốt luận đề
- 3Giải thích cơ chế
- 4Nêu hệ quả
- 5Nghe ý kiến khác
- 6Đề xuất thử nghiệm
- 7Đặt tiêu chí kiểm
Mỗi phần phải làm một việc
01Mở bằng một tình huống nhóm dễ nhận ra, không phán xét người dùng điện thoại.
02Nêu luận đề: thử mười phút khởi động có quy ước rõ.
03Luận điểm 1: mục tiêu chung giúp mỗi người biết việc cần làm.
04Luận điểm 2: thống nhất thời điểm dùng điện thoại phân biệt công cụ với xao nhãng.
05Xử lí ý kiến cho rằng quy ước làm mất tự do hoặc tốn thời gian.
06Đề xuất thử trong ba buổi, cách thực hiện và tiêu chí tự đánh giá.
07Kết bằng quyền điều chỉnh nếu thử nghiệm không hiệu quả.
Bản tham khảo: Mười phút để một buổi học không trôi mất
Đọc để nhìn quyết định viết. Không chép câu và không coi đây là đáp án duy nhất.
Một buổi học nhóm đôi khi bắt đầu rất đông đủ nhưng mười lăm phút sau vẫn chưa ai biết mình đang làm gì. Người tìm tài liệu, người trả lời tin nhắn, người mở bài tập rồi chờ bạn khác phân công. Vấn đề không nằm ở chiếc điện thoại tự nó gây hại, cũng không hẳn vì thành viên thiếu chăm chỉ. Nhiều nhóm chỉ thiếu một khoảng khởi động để biến những người đang ngồi cùng bàn thành một nhóm có chung mục tiêu.
Tôi đề nghị nhóm thử dành mười phút đầu mỗi buổi cho ba việc: chốt kết quả cần có khi kết thúc, chia phần việc và thống nhất lúc nào điện thoại được dùng. Mười phút ấy không phải một nghi lễ cho có. Nếu đích của buổi là giải xong năm bài và giải thích được hai bài khó, mỗi người sẽ biết mình cần góp phần nào. Khi nhiệm vụ còn mơ hồ, ta rất dễ bận rộn với việc phụ mà vẫn tưởng mình đang tiến lên.
Quy ước về điện thoại cũng cần cụ thể hơn lời nhắc ‘đừng mất tập trung’. Nhóm có thể úp máy trong lúc phân công, sau đó cho phép dùng để tra từ, xem tài liệu hoặc chụp kết quả; tin nhắn riêng được xử lí ở giờ nghỉ, trừ việc khẩn cấp. Cách này không biến điện thoại thành kẻ thù. Nó chỉ buộc người dùng trả lời một câu hỏi trước khi mở máy: việc mình sắp làm có phục vụ mục tiêu vừa thống nhất không?
Có người sẽ nói học nhóm cần tự nhiên, đặt quy ước khiến không khí căng và mười phút đầu chỉ làm mất thời gian. Lo ngại ấy hợp lí nếu nhóm biến phần khởi động thành một cuộc họp dài. Vì vậy, cần giới hạn đúng mười phút và chỉ ghi trên một tờ giấy: mục tiêu, tên người phụ trách từng việc, hai mốc kiểm tra. Nếu hết giờ mà vẫn tranh luận, nhóm trưởng chọn phương án tạm thời để bắt đầu; cuối buổi mọi người mới đánh giá lại.
Cũng không nên lấy một buổi học tốt làm bằng chứng rằng cách này luôn đúng. Nhóm có thể thử trong ba buổi liên tiếp. Cuối mỗi buổi, từng người trả lời ba câu ngắn: mục tiêu hoàn thành đến đâu, thời gian nào bị trôi, quy ước điện thoại có cản việc cần thiết không. Sau ba lần, nhóm giữ điều có ích, bỏ điều rườm rà. Thử nghiệm như vậy tôn trọng khác biệt: nhóm luyện ngoại ngữ có thể cần máy thường xuyên hơn nhóm chữa bài toán trên giấy.
Điều quan trọng nhất của mười phút đầu không phải kiểm soát nhau mà là chia trách nhiệm. Khi tên mỗi người gắn với một phần việc, thành viên ít nói cũng có chỗ đóng góp; người làm nhanh không phải ôm hết; người gặp khó biết cần hỏi ai. Hai mốc kiểm tra giữa buổi còn giúp nhóm phát hiện sớm một hướng giải sai thay vì đến phút cuối mới ghép những phần không ăn khớp.
Một buổi học hiệu quả không cần mọi ánh mắt rời màn hình suốt hai giờ. Nó cần mọi người hiểu lúc nào màn hình là công cụ, lúc nào nó kéo mình ra khỏi việc chung. Mười phút khởi động là một đề nghị có thể thử, đo và sửa, không phải mệnh lệnh bất biến. Nếu sau ba buổi nhóm không học tốt hơn, chúng ta có quyền thay cách khác; nhưng ít nhất, quyết định ấy sẽ đến từ trải nghiệm chung thay vì từ thói quen để buổi học tự trôi.
Phân tích một chi tiết kết thúc truyện
Viết khoảng 350–400 chữ phân tích hành động Minh gỡ ba lô khỏi chiếc ghế ở cuối ‘Chiếc ghế cạnh cửa sổ’ (Chương 2). Làm rõ quan hệ giữa chi tiết, điểm nhìn và sự thay đổi của nhân vật.
- 01Định vị chi tiết.
- 02Nhắc nghĩa chiếc ghế ở đầu.
- 03Chỉ thông tin làm Minh đổi hiểu.
- 04Phân tích hành động thay lời.
- 05Nối với điểm nhìn.
- 06Đánh giá có giới hạn.
Bài luận thuyết phục từ bỏ việc chờ bản nháp hoàn hảo
Viết khoảng 350–400 chữ gửi một người bạn thường không bắt đầu vì sợ viết dở. Dùng trải nghiệm cụ thể, không chẩn đoán tâm lí và không hứa một mẹo sẽ đúng với mọi người.
- 01Gọi tình huống.
- 02Thừa nhận nỗi ngại.
- 03Chỉ cái giá của chờ đợi.
- 04Kể một lần mình thử.
- 05Đề nghị bước nhỏ.
- 06Cho phép điều chỉnh.
Thuyết trình 4 phút để bảo vệ hoặc bác bỏ một đề nghị trong đời sống học đường bằng căn cứ.
- 01
Nêu đề nghị và người chịu tác động.
- 02
Giải thích hai lí do không trùng nhau.
- 03
Dùng một bằng chứng có nguồn hoặc tình huống ghi rõ giả định.
- 04
Trình bày một ý kiến khác công bằng.
- 05
Đề xuất cách thử và tiêu chí đánh giá.
- 06
Trả lời câu hỏi vào luận điểm, không công kích người hỏi.
85% trong chương, 15% nền cũ
11 câu giữ đúng kiến thức vừa học; 2 câu gọi lại nền cũ cần dùng. Không có kiến thức của chương sau.
01Nền cũTrong phân tích văn học, vì sao lời khen ‘rất hay’ chưa phải bằng chứng?
+
Đó là đánh giá của người viết; cần dẫn từ ngữ, hình ảnh, cấu trúc hoặc chi tiết rồi giải thích chúng tạo hiệu quả ra sao.
02Kiến thức chươngPhân biệt luận đề và luận điểm.
+
Luận đề là vấn đề/quan điểm trung tâm toàn bài cần chứng minh; luận điểm là những nhận định bộ phận cùng nâng đỡ luận đề.
03Kiến thức chươngLuận đề của thư về tủ sách là gì?
+
Cho phép thử quy trình quản lí tủ sách trong bốn tuần trước khi quyết định chuyển vào kho.
04Kiến thức chươngVì sao ba cuốn rách chưa đủ kết luận mô hình thất bại?
+
Đó là vấn đề thật nhưng chưa cho biết nguyên nhân, tỉ lệ trên tổng lượt dùng hoặc liệu quy trình mới có giảm hư hỏng không.
05Kiến thức chươngĐoạn phân tích thơ cần làm gì sau khi trích dẫn?
+
Giải thích từ ngữ, hình thức, quan hệ trong ngữ cảnh và nối chúng với nhận định; không để câu trích tự nói thay mình.
06Kiến thức chươngCảm xúc có vai trò hợp lí trong nghị luận khi nào?
+
Khi làm rõ thái độ và tăng sức truyền đạt cho lập luận đã có căn cứ, không đứng thay lí lẽ hoặc bằng chứng.
07Kiến thức chươngBài luận ‘Chỗ trống trong bản kế hoạch’ thay đổi quan niệm nào?
+
Từ coi trách nhiệm là giữ nguyên kế hoạch sang hiểu trách nhiệm gồm cả khả năng điều chỉnh phương tiện để phục vụ mục tiêu.
08Kiến thức chươngXử lí ý kiến khác không đồng nghĩa với việc gì?
+
Không đồng nghĩa bóp méo, chế giễu hoặc giả vờ ý kiến khác vô lí; cần trình bày phần hợp lí rồi dùng căn cứ đáp lại.
09Kiến thức chươngSửa từ nối: ‘Tủ sách có sách rách. Hơn nữa, chưa nên đóng ngay.’
+
Có thể sửa: ‘Tủ sách có sách rách. Tuy nhiên, dữ kiện ấy chưa đủ để quyết định đóng ngay.’ Quan hệ ở đây là nhượng bộ/đối lập, không phải bổ sung.
10Kiến thức chươngKhi lược một phần câu trích, cần làm gì?
+
Dùng dấu […] theo quy ước và kiểm tra phần bị lược không làm sai nghĩa, giọng hoặc phạm vi phát biểu của nguồn.
11Kiến thức chươngCước chú nên chứa loại thông tin nào?
+
Nguồn, bản văn, thuật ngữ hoặc giải thích phụ cần cho việc kiểm tra nhưng nếu đưa vào thân bài sẽ làm đứt mạch; không giấu luận điểm chính ở đó.
12Kiến thức chươngMột giải pháp có thể kiểm tra cần tối thiểu những gì?
+
Việc phải làm, người/nhóm thực hiện, thời hạn hoặc mốc kiểm tra và tiêu chí để giữ, sửa hay dừng giải pháp.
13Nền cũĐiểm nhìn hạn tri nhắc người viết nghị luận điều gì khi dùng trải nghiệm cá nhân?
+
Trải nghiệm cho thấy điều người viết đã thấy và hiểu, không tự động đại diện cho tất cả mọi người; cần giới hạn kết luận.
Trước khi viết, em thử nói luận đề trong một câu có động từ rõ. Với mỗi luận điểm, tự hỏi: bằng chứng này có thật, có liên quan, có đủ không; sau bằng chứng mình đã giải thích chưa?
Đọc bài của con như người cần được thuyết phục: đánh dấu chỗ mình gật đầu và chỗ muốn hỏi ‘vì sao’. Đừng biến bài của con thành giọng người lớn bằng cách thay toàn bộ từ ngữ.
Chấm tách ba tầng: chất lượng quan điểm, kiến trúc lập luận và diễn đạt. Cho phép học sinh bảo vệ ý khác nhau nếu bằng chứng phù hợp; yêu cầu ghi rõ dữ liệu giả định, nguồn trích và giới hạn trải nghiệm.
Đúng chương trình, không khóa cứng theo một bộ sách
Trục năng lực được đối chiếu Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018. Ngữ liệu trên trang do website tự biên soạn hoặc ghi rõ là ngữ liệu dân gian để luyện thao tác, không sao chép sách giáo khoa và không thay thế kế hoạch giáo dục của nhà trường.