ƯỚC MƠ LỚNHỌC ĐÚNG NƠI • ĐẾN ĐÚNG BÀI
NGỮ VĂN 6–12 • ĐỌC CÓ BẰNG CHỨNG • VIẾT CÓ TIẾNG NÓI RIÊNGTHCS • NỀN ĐỌC–VIẾT • TỰ BIÊN SOẠN

ƯỚC MƠ LỚNXƯỞNG ĐỌC & VIẾT

Trang chủ
NGỮ VĂN 8 • CHƯƠNG 2 • ĐÃ THẨM ĐỊNH NỘI DUNG

Thơ Đường luật • Thơ trào phúng • Thơ sáu–bảy chữ

Luật thơ và cú xoay của tiếng cười

Khuôn hình thức làm cảm xúc và tiếng cười sắc hơn bằng cách nào?

Học sinh nhận ra những dấu hiệu cơ bản của thơ thất ngôn bát cú Đường luật, đọc tiếng cười trào phúng bằng từ ngữ và thế đối lập, rồi tự thử nhịp thơ sáu–bảy chữ; không biến giờ thơ thành cuộc đếm vần khô cứng.

Bắt đầu đọcĐến xưởng viết
NỀN CẦN CÓ
  • Đếm tiếng trong một dòng thơ và nhận ra vần ở mức đã học.
  • Nêu được hình ảnh, từ ngữ gây ấn tượng và cảm xúc chủ đạo của bài thơ.
  • Phân biệt nghĩa trực tiếp với điều câu chữ gợi thêm trong ngữ cảnh.
Nếu còn hổng, ôn nhanh phần này trước; không học vượt bằng cách đoán thuật ngữ.
SAU CHƯƠNG, EM LÀM ĐƯỢC
  • Nhận biết số dòng, số tiếng, vần, nhịp và phép đối ở mức phù hợp lớp 8.
  • Giải thích tác dụng của một lựa chọn hình thức thay vì chỉ liệt kê thuật ngữ.
  • Nhận ra đối tượng, giọng điệu và cú chuyển của tiếng cười trào phúng.
  • Phân tích đảo ngữ, câu hỏi tu từ và nghĩa hàm ẩn trong ngữ cảnh.
  • Viết bài cảm nhận thơ có dẫn chứng; thử sáng tác bài thơ sáu hoặc bảy chữ ngắn.
PHÒNG ĐỌC • 3 NGỮ LIỆU CÓ RANH GIỚI NGUỒN

Đọc một lượt, rồi mới mở câu hỏi

Không sao chép sách giáo khoa. Mỗi ngữ liệu chỉ mở đúng thao tác của lớp 8 và ghi rõ ranh giới thể loại, nguồn dân gian hoặc phần tự biên soạn.

ĐỌC 1 • THƠ ĐƯỜNG LUẬT • TÁC PHẨM ĐÃ THUỘC PHẠM VI CÔNG CỘNG01

Qua Đèo Ngang — Bà Huyện Thanh Quan

Bài thơ thất ngôn bát cú của Bà Huyện Thanh Quan (thế kỉ XIX). Văn bản được dùng để luyện đọc luật thơ ở mức lớp 8. Cách chia đề–thực–luận–kết là một gợi ý theo dõi mạch, không phải chiếc khuôn duy nhất thay cho cảm nhận.

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia. Dừng chân đứng lại: trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Ba câu hỏi đáng hỏi

1Bức tranh Đèo Ngang vừa có sự sống vừa gợi vắng vẻ nhờ những lựa chọn nào?+

Gợi đường: Đặt ‘chen’ cạnh ‘lom khom’, ‘lác đác’, ‘vài’, ‘mấy’; tránh kết luận chỉ bằng một tính từ.

Đáp án tham khảo: ‘Chen’ làm cỏ cây, đá, lá, hoa hiện lên có sức sống; nhưng dáng ‘lom khom’, vị trí ‘lác đác’ cùng số lượng ít ‘vài chú’, ‘mấy nhà’ khiến dấu người thưa nhỏ giữa không gian rộng. Hai nét cùng tồn tại nên cảnh không chết lặng mà vẫn hiu quạnh.

2Phép đối ở hai câu 3–4 góp phần tổ chức cái nhìn như thế nào?+

Gợi đường: So các vị trí dưới núi/bên sông, tiều/chợ và hai dáng lom khom/lác đác.

Đáp án tham khảo: Hai câu có cấu trúc tương ứng: ‘lom khom – dưới núi – tiều vài chú’ đối với ‘lác đác – bên sông – chợ mấy nhà’. Phép đối đưa mắt người đọc từ núi xuống sông, đặt con người và dấu sinh hoạt ở hai phía nhưng đều ít ỏi, qua đó làm rõ độ rộng và vắng của cảnh.

3Câu ‘Một mảnh tình riêng, ta với ta’ khép bài thơ bằng cảm giác gì?+

Gợi đường: Xét từ ‘một’, ‘riêng’ và việc đại từ ‘ta’ lặp lại nhưng vẫn chỉ một người.

Đáp án tham khảo: ‘Một mảnh’, ‘riêng’ thu cảm xúc vào nỗi niềm cá nhân. ‘Ta với ta’ ở đây không mở ra cuộc đối thoại với người khác mà như người nói đối diện chính mình, làm cảm giác cô đơn và tự ôm giữ tâm sự thêm đậm.

ĐỌC 2 • THƠ TRÀO PHÚNG • TÁC PHẨM ĐÃ THUỘC PHẠM VI CÔNG CỘNG02

Vịnh khoa thi Hương — Trần Tế Xương

Bài thơ viết về khoa thi Hương năm Đinh Dậu 1897, trong bối cảnh xã hội thuộc địa. Ngôn ngữ có dấu ấn thời đại. Khi đọc, tiếng cười hướng vào cảnh thi cử nhếch nhác, mất vẻ trang nghiêm và thực trạng xã hội, không hướng vào người nghèo hay ngoại hình cá nhân.

Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, Ậm ọe quan trường miệng thét loa. Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra. Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

Ba câu hỏi đáng hỏi

1Hai từ ‘lôi thôi’, ‘ậm ọe’ khiến trường thi mất vẻ trang nghiêm như thế nào?+

Gợi đường: Nói rõ một từ gợi hình, một từ gợi âm; rồi nối với đối tượng sĩ tử và quan trường.

Đáp án tham khảo: ‘Lôi thôi’ gợi dáng vẻ luộm thuộm, nặng nề của sĩ tử; ‘ậm ọe’ gợi giọng nói khó nghe, lên gân của quan trường. Hai từ đưa người dự thi và người coi thi vào hai nét biếm họa tương ứng, làm trường thi hiện ra vừa nhếch nhác vừa ồn ào, trái với vẻ nghiêm cẩn đáng có.

2Cặp câu 5–6 tạo tiếng cười và nỗi đau bằng sự đối lập nào?+

Gợi đường: Theo dõi độ phô trương của cảnh đón người ngoại quốc và vị thế của trường thi nước nhà.

Đáp án tham khảo: ‘Lọng cắm rợp trời’, ‘váy lê quét đất’ phóng đại dáng vẻ phô trương của quan sứ và mụ đầm ngay giữa trường thi. Cảnh ấy lấn át người đi thi, cho thấy một kì thi của nước nhà lại bị quyền lực ngoại bang bao trùm. Vì thế, cái buồn cười bên ngoài dẫn vào nỗi chua xót về hoàn cảnh đất nước.

3Câu hỏi ‘Nhân tài đất Bắc nào ai đó’ có phải chỉ để chờ một cái tên trả lời không?+

Gợi đường: Đọc liền với câu cuối và xác định lời nhắn gửi ẩn sau câu hỏi.

Đáp án tham khảo: Đây là câu hỏi tu từ. Nhà thơ không đợi một người nêu tên nhân tài mà đánh thức những người có học, có trách nhiệm: hãy nhìn thẳng vào cảnh nước nhà. Cú chuyển từ tiếng cười sang lời gọi đau đáu làm giọng trào phúng không dừng ở đùa vui.

ĐỌC 3 • THƠ SÁU CHỮ TỰ BIÊN SOẠN03

Sau giờ trực

Bài thơ do website tự biên soạn, mỗi dòng sáu tiếng. Đây là ngữ liệu luyện nhịp, hình ảnh và giọng điệu; không phải khuôn mẫu bắt học sinh phải bắt chước.

Chuông tan, sân còn nắng mỏng Chiếc chổi đi qua lá khô Bạn quét, tôi nâng ghế nhỏ Bụi bay, mũi bỗng hắt hơi Cả nhóm cười nghiêng sọt rác Rồi gom tiếng cười vào túi Để chiều nhẹ hơn một chút Mai sân chờ chân mình tới

Ba câu hỏi đáng hỏi

1Bài thơ giữ nhịp lao động nhẹ nhàng bằng những động từ và hình ảnh nào?+

Gợi đường: Chọn một chuỗi động từ và xem các hành động có phối hợp hay tách rời.

Đáp án tham khảo: Các động từ ‘quét’, ‘nâng’, ‘gom’ đi theo chuỗi công việc chung; hình ảnh ‘nắng mỏng’, ‘ghế nhỏ’, ‘lá khô’ giữ cảnh ở quy mô gần gũi. Nhịp thơ không gấp, làm buổi trực hiện lên bận mà nhẹ.

2‘Gom tiếng cười vào túi’ nên hiểu theo nghĩa nào?+

Gợi đường: Không hình dung có một vật tên ‘tiếng cười’ bỏ thật vào túi. Hỏi cảm xúc nào được giữ lại sau công việc.

Đáp án tham khảo: Đây là cách nói hình ảnh: cả nhóm giữ lại niềm vui và kỉ niệm của buổi làm việc chung. Động từ ‘gom’ vốn dùng với rác, lá được chuyển sang ‘tiếng cười’, tạo một cú nghịch vui và nối cảm xúc với hành động quét dọn.

3Vì sao tiếng cười ở dòng 5 không mang tính chế giễu?+

Gợi đường: Xác định người cười, nguyên nhân và quan hệ giữa các bạn.

Đáp án tham khảo: Các bạn cùng cười trước một tai nạn nhỏ là bụi làm hắt hơi; không ai bị hạ thấp, tiếng cười giúp công việc bớt mệt và cho thấy sự gần gũi. Nó là tiếng cười chia sẻ, khác tiếng cười trào phúng phê phán một thói xấu.

TIẾNG VIỆT TRONG NGỮ CẢNH

Học ngay nơi chữ tạo nghĩa

Nhận diện chỉ là bước đầu. Mỗi mục đều buộc thử thay, so nghĩa hoặc sửa cách dùng.

LAB

Đảo ngữ

Đảo ngữ đưa một thành phần lên vị trí khác trật tự thông thường để nhấn mạnh hình ảnh, trạng thái hoặc cảm xúc. Phải so với cách diễn đạt bình thường rồi mới nói được tác dụng.

  • ‘Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ’ đặt ‘lôi thôi’ lên đầu để dáng vẻ nhếch nhác đập vào mắt trước.
  • Cách thông thường có thể là ‘Mấy chú tiều lom khom dưới núi’; câu thơ đưa ‘lom khom’ lên trước để nhấn dáng người nhỏ giữa cảnh.
  • Không phải mọi câu có vị ngữ đứng trước đều hay; đảo chỉ có giá trị khi phù hợp nhịp và điểm nhìn.
LAB

Câu hỏi tu từ

Câu hỏi tu từ có hình thức hỏi nhưng chủ yếu để khẳng định, phủ định, bộc lộ cảm xúc hoặc gợi suy nghĩ; thường không chờ một câu trả lời trực tiếp.

  • ‘Nhân tài đất Bắc nào ai đó’ là lời gọi và chất vấn trách nhiệm, không phải câu hỏi điểm danh.
  • ‘Ai chẳng muốn được lắng nghe?’ ngầm khẳng định mọi người đều mong được lắng nghe.
  • Trong hội thoại thật, ‘Mấy giờ bạn về?’ thường là câu hỏi cần thông tin, không phải câu hỏi tu từ.
LAB

Nghĩa hàm ẩn

Nghĩa hàm ẩn là điều người nói muốn người nghe suy ra ngoài phần được nói trực tiếp. Muốn hiểu, cần dựa vào ngữ cảnh, quan hệ giao tiếp và lẽ thường; không suy diễn tùy ý.

  • ‘Thông báo của mình không sai chi tiết nào’ trong truyện chương trước hàm ý tự bào chữa; câu đáp làm lộ rằng nó không có thông tin hữu ích.
  • ‘Mai sân chờ chân mình tới’ không có nghĩa sân biết chờ; câu gợi ý các bạn sẽ tiếp tục trở lại và có trách nhiệm với nơi chung.
  • Nếu mẹ nói ‘Trời sắp mưa rồi’ khi con chuẩn bị ra ngoài, lời ấy có thể hàm ý nhắc mang áo mưa.
XƯỞNG VIẾT • KHÔNG HỌC THUỘC VĂN MẪU

Viết bài cảm nhận một bài thơ

Viết khoảng 400–500 chữ làm rõ cách cảnh và tình gắn với nhau trong ‘Qua Đèo Ngang’. Chọn hai hoặc ba dấu hiệu hình thức thật sự có tác dụng; không liệt kê toàn bộ luật thơ.

  1. 1Chốt cảm nhận
  2. 2Chọn hai điểm chữ
  3. 3Dẫn ngắn
  4. 4Giải nghĩa
  5. 5Nối hình thức–cảm xúc
  6. 6Khép dư âm
DÀN Ý CÓ NHIỆM VỤ

Mỗi phần phải làm một việc

01Mở: nêu ấn tượng bao trùm và hướng phân tích.

02Thân 1: cảnh Đèo Ngang có sức sống nhưng thưa vắng qua từ ngữ, hình ảnh.

03Thân 2: phép đối và cách tổ chức không gian làm con người nhỏ giữa cảnh.

04Thân 3: âm thanh, từ ngữ ở hai câu luận và câu kết đưa cảnh vào nỗi lòng.

05Kết: chốt tác dụng của khuôn thơ đối với cảm xúc; tránh khen chung ‘bài thơ rất hay’.

BẢN THAM KHẢO CÓ CHÚ GIẢI

Bản tham khảo: Cảnh rộng dần, lòng người khép lại

Đọc để nhìn quyết định viết. Không chép câu và không coi đây là đáp án duy nhất.

“Qua Đèo Ngang” để lại trong tôi cảm giác một người đang đi giữa cảnh có nhiều đường nét mà vẫn thiếu một tiếng nói sẻ chia. Nỗi cô đơn ấy không được tuyên bố ngay từ đầu. Nó thấm dần qua cách Bà Huyện Thanh Quan chọn thời điểm, sắp xếp không gian và nén cảm xúc trong khuôn tám câu bảy tiếng.

Hai câu mở đưa người đọc đến Đèo Ngang lúc “bóng xế tà”. Ánh ngày đang lùi khiến cảnh vừa có đường nét vừa nhuốm buồn. Động từ “chen” lặp lại trong “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” làm thiên nhiên không hề trống rỗng: cây cỏ, đá, lá, hoa đan vào nhau, có sức sống riêng. Nhưng sang hai câu tiếp, dấu người lại hiện ra ít ỏi. “Lom khom” và “lác đác” được đặt lên đầu câu, khiến người đọc nhìn thấy trước hết dáng nhỏ và sự thưa. Những lượng từ “vài”, “mấy” càng thu con người lại giữa núi sông rộng.

Cặp câu ba–bốn cân xứng từ vị trí đến hình ảnh: dưới núi đối với bên sông, tiều vài chú đối với chợ mấy nhà. Phép đối không chỉ làm câu thơ ngay ngắn. Nó mở tầm mắt ra hai phía rồi cho thấy ở phía nào dấu sống con người cũng xa và mỏng. Khuôn thơ chặt vì thế lại làm nỗi vắng rộng hơn.

Đến hai câu luận, tiếng chim “quốc quốc”, “gia gia” vang lên mà dường như chạm đúng nỗi “nhớ nước”, “thương nhà”. Âm thanh ngoài cảnh và tiếng lòng hòa vào nhau; ta khó tách đâu chỉ là tiếng chim, đâu đã là tâm sự gửi trong cách nghe. Khi người nói “dừng chân đứng lại”, cảnh được gọi thành ba nét “trời, non, nước”, rất rộng. Trái lại, lòng người co vào “một mảnh tình riêng”. Cụm “ta với ta” có hai tiếng “ta” nhưng vẫn chỉ một người tự đối diện mình.

Bởi vậy, cảnh và tình trong bài không đứng thành hai phần rời. Mỗi lựa chọn hình thức — từ cặp câu đối xứng, vị trí từ ngữ đến nhịp câu kết — đều dẫn người đọc từ một Đèo Ngang thưa vắng vào nỗi lòng kín đáo. Khuôn thơ nghiêm không khóa cảm xúc; nó giữ cảm xúc lại đủ chặt để dư âm cô đơn còn ngân sau chữ cuối.

ĐẦU RA THỨ HAI • THỰC HÀNH CHUYỂN GIAO

Thử viết một bài thơ sáu chữ

Viết 8–12 dòng, mỗi dòng sáu tiếng, về một việc quen ở trường. Bài cần một hình ảnh lặp có biến đổi; không buộc gieo vần nếu vần làm câu gượng.

  1. 01Ghi một cảnh thật và năm từ khóa nhìn/nghe/chạm.
  2. 02Chọn hình ảnh sẽ trở lại ở cuối.
  3. 03Viết câu tự nhiên trước, rồi đếm và gọt về sáu tiếng.
  4. 04Đọc thành tiếng để nghe chỗ vấp.
  5. 05Cắt câu giải thích; để hình ảnh tự gợi.
Bản thử dùng tám dòng sáu tiếng. Hình ảnh viên phấn trở lại ở đầu và cuối nhưng đổi từ ‘nằm nghiêng’ sau giờ học sang ‘chờ’ buổi học mới.
TỰ BIÊN TẬP • Ý → MẠCH → CÂU → CHỮ
Ô đánh dấu chỉ giúp tự kiểm trên thiết bị này; website không lưu hay tuyên bố bài đã đạt thay giáo viên.
NÓI VÀ NGHE

Đọc diễn cảm một đoạn thơ và giải thích một quyết định ngắt nhịp trong 90 giây.

  1. 01

    Chọn bốn dòng liền nhau và đánh dấu chỗ ngắt dự kiến.

  2. 02

    Đọc thử hai cách; nghe xem cách nào làm rõ hình ảnh hoặc cảm xúc.

  3. 03

    Giữ tốc độ và âm lượng vừa đủ, không ‘diễn’ thành tiếng khóc hay tiếng quát.

  4. 04

    Sau khi đọc, chỉ một từ hoặc cấu trúc khiến em chọn nhịp ấy.

CỔNG LUYỆN • 13 CÂU

85% trong chương, 15% nền cũ

11 câu giữ đúng kiến thức vừa học; 2 câu gọi lại nền cũ cần dùng. Không có kiến thức của chương sau.

01

Nền cũDòng ‘Chuông tan, sân còn nắng mỏng’ có mấy tiếng?

+
Đáp án và cách kiểm:

Sáu tiếng: Chuông / tan / sân / còn / nắng / mỏng.

02

Kiến thức chương‘Qua Đèo Ngang’ có bao nhiêu dòng, mỗi dòng bao nhiêu tiếng?

+
Đáp án và cách kiểm:

Tám dòng, mỗi dòng bảy tiếng; đó là hình thức thất ngôn bát cú.

03

Kiến thức chươngCác câu nào trong ‘Qua Đèo Ngang’ cùng hiệp vần chân ‘a’?

+
Đáp án và cách kiểm:

Các câu 1, 2, 4, 6 và 8: tà – hoa – nhà – gia – ta.

04

Kiến thức chươngNêu một cặp tương ứng trong phép đối ở câu 3–4 của ‘Qua Đèo Ngang’.

+
Đáp án và cách kiểm:

Ví dụ: lom khom/lác đác; dưới núi/bên sông; tiều vài chú/chợ mấy nhà.

05

Kiến thức chươngVì sao ‘lôi thôi’ trong ‘Vịnh khoa thi Hương’ là một từ đắt?

+
Đáp án và cách kiểm:

Từ được đảo lên đầu câu, gợi ngay dáng sĩ tử luộm thuộm, nặng nề và góp phần làm lộ cảnh trường thi mất vẻ trang nghiêm.

06

Kiến thức chươngTiếng cười trong ‘Vịnh khoa thi Hương’ có chỉ để mua vui không?

+
Đáp án và cách kiểm:

Không. Tiếng cười phê phán cảnh thi cử nhếch nhác và sự phô trương của quyền lực ngoại bang, rồi chuyển thành nỗi chua xót, lời gọi nhìn vào cảnh nước nhà.

07

Kiến thức chươngCâu ‘Nhân tài đất Bắc nào ai đó’ thuộc kiểu câu gì theo mục đích nói trong ngữ cảnh?

+
Đáp án và cách kiểm:

Đó là câu hỏi tu từ, dùng để gọi và chất vấn trách nhiệm chứ không chờ nêu một cái tên.

08

Kiến thức chươngNghĩa hàm ẩn của ‘Mai sân chờ chân mình tới’ là gì?

+
Đáp án và cách kiểm:

Các bạn sẽ trở lại, tiếp tục gắn bó và có trách nhiệm với không gian chung; sân không thật sự có hành động chờ như con người.

09

Kiến thức chươngSo cách thường ‘Sĩ tử lôi thôi vai đeo lọ’ với câu thơ ‘Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ’.

+
Đáp án và cách kiểm:

Câu thơ đảo ‘lôi thôi’ lên đầu, khiến dáng vẻ nhếch nhác hiện ra trước cả chủ thể và tăng sức biếm họa.

10

Kiến thức chươngKhi phân tích phép đối, cần làm gì sau khi chỉ ra hai vế?

+
Đáp án và cách kiểm:

Cần giải thích hai vế tổ chức hình ảnh, nhịp hoặc ý nghĩa ra sao và chúng góp gì cho cảm xúc, giọng điệu của bài.

11

Kiến thức chươngMột bài thơ đủ sáu tiếng mỗi dòng đã chắc hay chưa?

+
Đáp án và cách kiểm:

Chưa. Đủ tiếng mới là điều kiện hình thức ban đầu; bài còn cần hình ảnh, mạch cảm xúc, nhịp tự nhiên và ngôn từ có chọn lọc.

12

Kiến thức chươngSửa câu phân tích ‘Tác giả dùng rất nhiều biện pháp nghệ thuật làm bài thơ hay hơn’.

+
Đáp án và cách kiểm:

Ví dụ: việc đặt ‘lom khom’, ‘lác đác’ lên đầu hai câu thơ nhấn mạnh dáng người nhỏ và thưa, làm cảnh Đèo Ngang thêm hiu quạnh.

13

Nền cũTrong câu ‘Mỗi chiều, sân trường lại đón chúng tôi’, hình ảnh nào được nhân hóa?

+
Đáp án và cách kiểm:

‘Sân trường’ được gán hành động ‘đón’ của con người, qua đó gợi sự thân thuộc.

CHO HỌC SINH

Đừng bắt đầu bằng việc săn hết biện pháp tu từ. Hãy đọc thành tiếng, khoanh một chỗ khiến em dừng lại, rồi hỏi: chữ này làm cảnh hoặc cảm xúc đổi ra sao? Thuật ngữ sẽ đến sau cảm nhận có căn cứ.

CHO PHỤ HUYNH

Có thể cùng con đọc một bài thơ theo hai cách ngắt nhịp và hỏi cách nào dễ hiểu hơn, vì sao. Không yêu cầu con đọc giống giọng mẫu; điều quan trọng là lựa chọn có lí do.

CHO GIÁO VIÊN

Khi dạy Đường luật, chỉ mở niêm–luật ở mức chương trình yêu cầu và luôn nối với hiệu quả đọc. Với thơ trào phúng, hướng học sinh phân biệt cười vào thói xấu/quyền lực với cười vào người yếu thế; không khuyến khích nhại giọng để gây cười rẻ tiền.

NGUỒN & RANH GIỚI

Đúng chương trình, không khóa cứng theo một bộ sách

Trục năng lực được đối chiếu Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018. Ngữ liệu trên trang do website tự biên soạn hoặc ghi rõ là ngữ liệu dân gian để luyện thao tác, không sao chép sách giáo khoa và không thay thế kế hoạch giáo dục của nhà trường.

Mở Chương trình GDPT môn Ngữ văn ↗