- Nhận ra ý kiến, lí lẽ và bằng chứng trong một đoạn nghị luận.
- Phân tích nhân vật hoặc chi tiết văn học bằng dẫn chứng ngắn, đúng ngữ cảnh.
- Phân biệt điều văn bản cho biết với nhận xét chủ quan của người đọc.
ƯỚC MƠ LỚNXƯỞNG ĐỌC & VIẾT
Trang chủNghị luận xã hội • Nghị luận văn học
Từ vấn đề đến giải pháp
Một giải pháp khả thi khác lời khuyên chung chung ở điểm nào?
Học sinh học cách biến một điều đang gây băn khoăn thành vấn đề có phạm vi, nguyên nhân và bằng chứng; từ đó đề xuất giải pháp có người thực hiện, điều kiện, cách kiểm tra. Khi nghị luận văn học, các em đi từ chi tiết tới nhận xét về nội dung và nghệ thuật, không chép lại những lời bình có sẵn.
- Xác định luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng và mối nối giữa các phần của lập luận.
- Đánh giá độ phù hợp của bằng chứng, phạm vi đúng của kết luận và cách người viết thuyết phục.
- Đề xuất giải pháp gắn với nguyên nhân, đối tượng, điều kiện và tiêu chí kiểm tra.
- Nhận biết, sử dụng câu đơn, câu ghép phù hợp với quan hệ ý nghĩa.
- Trích dẫn trực tiếp, diễn giải và ghi nguồn mà không biến lời người khác thành lời của mình.
- Viết bài nghị luận về một vấn đề cần giải quyết; viết bài phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Đọc một lượt, rồi mới mở câu hỏi
Không sao chép sách giáo khoa. Mỗi ngữ liệu chỉ mở đúng thao tác của lớp 9 và ghi rõ ranh giới thể loại, nguồn dân gian hoặc phần tự biên soạn.
Muốn bớt cốc dùng một lần, đừng chỉ nhắc ‘hãy có ý thức’
Tình huống và số liệu trong bài đều do website xây dựng để luyện đọc lập luận. Đây không phải kết quả khảo sát của một trường có thật; khi vận dụng, học sinh phải thu thập hoặc dẫn nguồn dữ liệu tại nơi mình tìm hiểu.
Trong năm ngày, nhóm Mầm Xanh của lớp 9A ở một trường THCS giả định ghi lại số cốc nhựa dùng một lần còn trong các thùng rác quanh sân sau giờ ra chơi. Các con số lần lượt là 68, 71, 64, 73 và 69 cốc, tổng cộng 345 cốc. Việc đếm chưa cho biết toàn trường đã dùng bao nhiêu cốc, vì một số cốc có thể được bỏ ở nơi khác. Dù vậy, nó cho thấy khu vực quan sát có lượng rác lặp lại mỗi ngày và đáng để tìm nguyên nhân.
Nhóm hỏi nhanh 24 bạn vừa mua đồ uống. Mười một bạn nói quên mang bình; tám bạn cho biết chỗ lấy nước lọc ở xa sân; năm bạn chọn đồ uống chỉ được bán bằng cốc dùng một lần. Hai con số 345 và 24 không đại diện cho mọi học sinh, nhưng giúp sửa một nhận định quá dễ: không thể quy toàn bộ vấn đề cho việc ‘thiếu ý thức’. Cách phục vụ, vị trí lấy nước và thói quen chuẩn bị đều góp phần tạo ra lựa chọn của người mua.
Vì thế, lời kêu gọi ‘hãy bảo vệ môi trường’ là chưa đủ. Nhóm đề nghị thử trong bốn tuần: căng tin cho phép rót đồ uống vào bình cá nhân sạch; lớp đặt bảng nhắc mang bình ở vị trí học sinh nhìn thấy trước khi ra về; nhà trường bố trí một điểm tiếp nước gần sân nếu kiểm tra thấy đường cấp nước và kinh phí phù hợp. Mỗi giải pháp tác động vào một nguyên nhân khác nhau, thay vì bắt một khẩu hiệu làm tất cả công việc.
Kế hoạch cũng cần biết mình có hiệu quả hay không. Nhóm sẽ đếm lại ở cùng khu vực, cùng khung giờ và cùng số ngày mỗi tuần. Mục tiêu thử nghiệm là giảm ít nhất 30% số cốc quan sát được vào tuần thứ tư so với tuần đầu. Nếu số cốc không giảm, nhóm phải hỏi lại: học sinh có biết quy định mới không, điểm nước có hoạt động không, hay đồ uống đóng cốc vẫn là lựa chọn thuận tiện nhất? Giải pháp có trách nhiệm không hứa chắc thành công; nó nói rõ cách kiểm tra và sẵn sàng sửa.
Vẫn có ý kiến lo bình cá nhân không sạch hoặc việc đổi cách phục vụ làm căng tin chậm hơn. Những lo ngại ấy cần được trả lời bằng quy định cụ thể và một tuần thử ở quy mô nhỏ, không thể gạt đi bằng câu ‘việc tốt thì ai cũng phải ủng hộ’. Một giải pháp chỉ khả thi khi người chịu ảnh hưởng có thể thực hiện và những rủi ro mới được tính đến.
Ba câu hỏi đáng hỏi
1Luận đề chính của bài đọc là gì?+
Gợi đường: Đừng chép riêng câu ‘hãy bảo vệ môi trường’. Hãy nêu quan hệ giữa nguyên nhân và giải pháp mà cả bài theo đuổi.
Đáp án tham khảo: Muốn giảm cốc dùng một lần trong trường, không thể chỉ kêu gọi ý thức; cần xác định nhiều nguyên nhân, thử những giải pháp tương ứng và đo lại để điều chỉnh.
2Vì sao tác giả vừa dùng số 345 và 24, vừa chủ động giới hạn ý nghĩa của chúng?+
Gợi đường: Xem nhóm đã quan sát ở đâu, hỏi ai và điều gì chưa được khảo sát.
Đáp án tham khảo: Hai số liệu cung cấp dấu hiệu cụ thể về khu vực sân và một nhóm 24 người mua, nhưng chưa đại diện cho toàn trường. Nêu giới hạn giúp người đọc không biến một mẫu nhỏ thành kết luận tuyệt đối, đồng thời làm lập luận đáng tin hơn.
3Ba giải pháp khác lời khuyên chung chung ở những điểm nào?+
Gợi đường: Tìm nguyên nhân, người thực hiện, điều kiện và cách đo kết quả.
Đáp án tham khảo: Mỗi giải pháp gắn với một nguyên nhân; có người thực hiện như căng tin, lớp hoặc nhà trường; có điều kiện về vệ sinh, đường nước, kinh phí; có thời gian thử và tiêu chí giảm số cốc. Lời khuyên chung chỉ nêu mong muốn mà chưa chỉ ra các phần ấy.
Chiếc ghế trống không đứng ngoài xung đột
Bài bình do website biên soạn từ cảnh kịch ‘Ngọn đèn ở mũi Gió’ đã học ở Chương 3. Mục đích là quan sát cách một chi tiết nghệ thuật góp phần biểu hiện nội dung, không cung cấp câu nhận xét để học thuộc.
Ở cuối ‘Ngọn đèn ở mũi Gió’, chiếc ghế bên máy liên lạc vẫn trống. Đó là một đồ vật rất bình thường, nhưng cách ánh đèn quét qua nó nhiều lần khiến sự vắng mặt của Hải có hình dạng trên sân khấu. Người xem không chỉ nghe tin ‘chưa thấy Hải’; họ nhìn thấy một chỗ đáng lẽ có người ngồi mà không có ai.
Chi tiết ấy nối trực tiếp với xung đột của ông Lâm. Mỗi vòng sáng xác nhận ông vẫn giữ đèn cho tàu cứu hộ, nghĩa là trách nhiệm chung đang được thực hiện. Cũng chính vòng sáng ấy làm chiếc ghế trống hiện ra, nhắc rằng lựa chọn ở lại chưa đưa người cha tới gần con. Một hình ảnh đồng thời chứa điều ông bảo vệ và điều ông chưa thể cứu.
Nếu cảnh kết bằng một lời tuyên bố rằng ông Lâm đã lựa chọn đúng, xung đột có thể khép quá sớm. Chiếc ghế không phán xét thay người xem. Nó giữ lại khoảng chưa biết về Hải, nỗi đau riêng của người cha và câu hỏi về cái giá của bổn phận. Vì thế, nghệ thuật ở đây không phải phần trang trí cho nội dung; cách tổ chức ánh sáng, đồ vật và khoảng lặng chính là cách nội dung được cảm nhận.
Nhận xét ‘chiếc ghế trống tượng trưng cho nỗi đau’ chưa sai, nhưng vẫn còn rộng. Muốn nhận xét đứng vững, người viết phải chỉ ra ghế đặt bên máy liên lạc, xuất hiện sau tin báo và lặp lại theo vòng sáng. Chính vị trí, thời điểm và nhịp lặp khiến đồ vật mang nghĩa; không phải cứ có một chiếc ghế trống trong mọi tác phẩm là nó sẽ nói cùng một điều.
Ba câu hỏi đáng hỏi
1Luận điểm trung tâm của bài bình là gì?+
Gợi đường: Tìm nhận xét được các đoạn sau cùng giải thích bằng vị trí, ánh sáng và kết cảnh.
Đáp án tham khảo: Chiếc ghế trống là chi tiết nghệ thuật làm hiện rõ xung đột và cái giá trong lựa chọn của ông Lâm; ý nghĩa ấy được tạo bởi vị trí, thời điểm xuất hiện và sự lặp lại theo vòng sáng.
2Bài viết đã nối hình thức sân khấu với nội dung như thế nào?+
Gợi đường: Nêu ít nhất hai yếu tố hình thức và điều chúng giúp người xem cảm nhận.
Đáp án tham khảo: Vòng sáng lặp xác nhận nhiệm vụ giữ đèn nhưng cũng liên tục chiếu vào ghế trống; vị trí ghế cạnh máy liên lạc nối đồ vật với tin về Hải; khoảng lặng không kết luận thay người xem. Những cách tổ chức ấy làm trách nhiệm và mất mát cùng hiện diện.
3Vì sao câu ‘chiếc ghế trống tượng trưng cho nỗi đau’ cần được làm rõ thêm?+
Gợi đường: Xem một nhãn ý nghĩa có thay được bằng chứng và phân tích hay không.
Đáp án tham khảo: Câu ấy mới gọi tên một nghĩa chung. Người viết cần chứng minh bằng ngữ cảnh cụ thể: chiếc ghế ở đâu, hiện lúc nào, đi cùng ánh sáng và tin báo ra sao. Nếu thiếu những mối nối ấy, nhận xét có thể gắn tùy tiện vào nhiều văn bản.
Sau câu hỏi ‘ai sẽ làm?’, bản nháp phải viết lại
Hai bản nháp và nhận xét đều do website biên soạn. Các em đọc để thấy sửa lập luận là sửa tư duy, không chỉ thay từ cho câu văn kêu hơn.
Bản đầu: ‘Rác cốc nhựa đang rất nghiêm trọng. Mọi học sinh cần nâng cao ý thức, nhà trường cần xử lí thật mạnh và căng tin phải thay đổi ngay. Chỉ cần mọi người chung tay, sân trường chắc chắn sẽ sạch hoàn toàn.’
Người đọc đặt bốn câu hỏi: ‘Nghiêm trọng trong phạm vi nào? Xử lí mạnh là làm gì? Ai chịu chi phí khi thay đổi? Dựa vào đâu để chắc chắn sạch hoàn toàn?’ Bản đầu có thái độ rõ nhưng dùng nhiều từ đánh giá, chưa có dữ liệu, chưa phân vai và hứa một kết quả tuyệt đối.
Bản sửa: ‘Trong năm ngày quan sát ở sân sau, nhóm ghi nhận 345 cốc dùng một lần trong các thùng rác. Nhóm đề nghị thử bốn tuần với ba việc: cho phép dùng bình cá nhân sạch tại căng tin, nhắc mang bình trước giờ ra về và khảo sát khả năng đặt điểm tiếp nước gần sân. Kết quả được theo dõi bằng cách đếm lại ở cùng nơi, cùng giờ. Nếu lượng cốc không giảm, nhóm sẽ hỏi lại người mua và điều chỉnh.’
Bản sửa thuyết phục hơn không phải vì dài hơn. Nó đổi lời khẳng định chủ quan thành thông tin có phạm vi; đổi ‘mọi người’ thành những chủ thể cụ thể; đổi ‘chắc chắn’ thành mục tiêu có thể kiểm tra. Tuy vậy, số liệu vẫn đến từ tình huống mô phỏng và mẫu nhỏ. Khi đem cách làm này tới một trường có thật, người viết phải thu thập dữ liệu mới, không được mượn 345 cốc như thể đó là số liệu của trường mình.
Ba câu hỏi đáng hỏi
1Ba từ hoặc cụm từ nào trong bản đầu làm kết luận rộng hơn bằng chứng?+
Gợi đường: Chú ý mức độ, phạm vi người thực hiện và lời hứa kết quả.
Đáp án tham khảo: Có thể chọn ‘rất nghiêm trọng’, ‘mọi học sinh’ và ‘chắc chắn sẽ sạch hoàn toàn’. Các cụm này mở rộng mức độ hoặc kết quả trong khi bản đầu chưa đưa bằng chứng tương ứng.
2Bản sửa đã trả lời câu ‘ai sẽ làm?’ như thế nào?+
Gợi đường: Tìm các chủ thể gắn với từng việc thay cho từ ‘mọi người’.
Đáp án tham khảo: Căng tin tiếp nhận bình cá nhân sạch, lớp hoặc nhóm nhắc mang bình, nhà trường xem xét điểm tiếp nước, còn nhóm quan sát đếm lại và hỏi người mua. Trách nhiệm được phân thành việc cụ thể.
3Vì sao học sinh ở một trường thật không được chép số 345 vào bài như dữ liệu của mình?+
Gợi đường: Phân biệt dữ liệu mô phỏng với dữ liệu đã thu ở nơi viết đang nói tới.
Đáp án tham khảo: Số 345 chỉ thuộc tình huống luyện tập được tạo ra. Dùng nó như dữ liệu của một trường thật là làm sai nguồn và khiến bằng chứng không khớp đối tượng. Học sinh phải khảo sát tại nơi mình viết hoặc dẫn một nguồn có thể kiểm tra.
Học ngay nơi chữ tạo nghĩa
Nhận diện chỉ là bước đầu. Mỗi mục đều buộc thử thay, so nghĩa hoặc sửa cách dùng.
Câu đơn: một nòng cốt vẫn có thể nhiều thông tin
Câu đơn có một cụm chủ ngữ – vị ngữ làm nòng cốt. Chủ ngữ, vị ngữ có thể được mở rộng bằng nhiều thành phần phụ; vì thế câu dài chưa chắc là câu ghép. Dùng câu đơn khi cần trình bày một nhận định, số liệu hoặc hành động rõ ràng.
- ‘Nhóm Mầm Xanh ghi lại số cốc ở sân sau.’ có một nòng cốt: nhóm – ghi lại.
- ‘Trong năm ngày, nhóm Mầm Xanh của lớp 9A ghi lại cẩn thận số cốc ở sân sau.’ vẫn là câu đơn; các phần khác bổ sung thời gian, đặc điểm, cách thức và nơi chốn.
- ‘345 cốc’ không phải câu hoàn chỉnh nếu đứng một mình trong đoạn cần thông báo ai ghi nhận điều gì.
Câu ghép: đặt hai sự việc vào một quan hệ
Câu ghép có từ hai cụm chủ ngữ – vị ngữ trở lên, các cụm ấy không bao chứa nhau. Chúng có thể nối bằng quan hệ từ, cặp từ hô ứng hoặc dấu câu. Chọn cách nối đúng quan hệ nguyên nhân, điều kiện, tương phản, bổ sung hay tiếp nối.
- ‘Điểm nước ở xa nên nhiều bạn chọn mua cốc dùng một lần.’ biểu thị nguyên nhân – kết quả.
- ‘Nếu số cốc không giảm, nhóm sẽ khảo sát lại.’ biểu thị điều kiện – kết quả.
- ‘Lời kêu gọi có thiện ý, nhưng nó chưa chỉ ra cách thực hiện.’ biểu thị tương phản.
Trích dẫn, diễn giải và tham khảo không đạo văn
Trích dẫn trực tiếp giữ đúng lời, đặt trong dấu ngoặc kép và ghi nguồn. Diễn giải trình bày lại bằng cấu trúc, từ ngữ của người viết nhưng vẫn phải nêu nguồn của ý. Chỉ đổi vài từ hoặc bỏ ngoặc kép không biến lời người khác thành ý riêng.
- Trực tiếp: Bài đọc nhận xét: ‘Giọng chắc chắn không thể bù cho bằng chứng thiếu.’
- Diễn giải: Theo bài đọc, lời văn quả quyết không thay thế được dữ liệu và phân tích còn thiếu.
- Trong bài học này có thể ghi: Nguồn: ‘Muốn bớt cốc dùng một lần…’, ngữ liệu mô phỏng do UocMoLon.vn biên soạn.
Nghị luận về một vấn đề cần giải quyết
Viết khoảng 600–700 chữ đề xuất giải pháp giảm cốc dùng một lần trong trường. Có thể dùng hồ sơ mô phỏng để luyện cách lập luận, nhưng phải nói rõ đó là dữ liệu mô phỏng; nếu viết về trường mình, hãy thay bằng quan sát hoặc nguồn có thật.
- 1Khoanh phạm vi
- 2Nêu dấu hiệu
- 3Tìm nguyên nhân
- 4Chọn giải pháp
- 5Giao đúng người
- 6Tính điều kiện
- 7Đặt thước đo
- 8Xét phản hồi
Mỗi phần phải làm một việc
01Mở: nêu vấn đề trong phạm vi cụ thể; không mở bằng những câu lớn về toàn thế giới.
02Đoạn 1: trình bày dấu hiệu và giới hạn của dữ liệu.
03Đoạn 2: phân tích từ hai nguyên nhân trở lên, tránh đổ hết cho ý thức.
04Đoạn 3: đề xuất từng giải pháp, người thực hiện và điều kiện đi kèm.
05Đoạn 4: nêu thời gian thử, cách đo, khả năng điều chỉnh và một ý kiến lo ngại.
06Kết: chốt nguyên tắc hành động vừa sức, không hứa kết quả tuyệt đối.
Bản tham khảo: Một chiếc cốc nhỏ, một kế hoạch phải đủ rõ
Đọc để nhìn quyết định viết. Không chép câu và không coi đây là đáp án duy nhất.
Giảm cốc dùng một lần trong trường là việc đáng làm, nhưng lời nhắc ‘hãy có ý thức’ khó tạo thay đổi nếu học sinh vẫn chỉ có một lựa chọn thuận tiện. Hồ sơ mô phỏng của nhóm Mầm Xanh ghi nhận 345 cốc trong các thùng rác quanh sân sau sau năm ngày. Con số ấy không đại diện cho toàn trường, song cho thấy tại khu vực được quan sát, rác cốc xuất hiện đều đặn và cần một kế hoạch cụ thể.
Trước hết, không nên quy mọi nguyên nhân cho sự thờ ơ. Trong 24 bạn được hỏi, có bạn quên bình cá nhân, có bạn thấy chỗ lấy nước lọc quá xa sân, có bạn mua loại đồ uống chỉ được phục vụ bằng cốc dùng một lần. Mẫu hỏi nhỏ chưa cho phép kết luận tỉ lệ của cả trường, nhưng nó gợi ra ba điểm cần kiểm tra: thói quen chuẩn bị, sự thuận tiện của điểm nước và cách bán hàng của căng tin. Nếu chỉ treo một tấm áp phích, những điều kiện ấy vẫn giữ nguyên.
Giải pháp đầu tiên có thể bắt đầu ở quy mô nhỏ: trong bốn tuần, căng tin cho phép học sinh nhận đồ uống bằng bình cá nhân sạch, phù hợp với loại đồ uống. Người bán cần có quyền từ chối bình không bảo đảm vệ sinh; nhà trường và căng tin thống nhất cách thực hiện để không làm chậm giờ phục vụ. Việc này tác động trực tiếp vào nhóm học sinh đã có bình và sẵn sàng dùng.
Giải pháp thứ hai là giúp học sinh nhớ mang bình trước khi rời nhà. Mỗi lớp có thể đặt một dòng nhắc ngắn ở góc thông báo cuối buổi; lớp trưởng không kiểm tra hay phê bình người quên. Sau hai tuần, lớp hỏi nhanh xem lời nhắc có được chú ý không. Một lời nhắc đúng thời điểm có ích hơn việc đợi đến khi học sinh đã ra sân mới yêu cầu các bạn quay về lấy bình.
Với nguyên nhân điểm nước xa, nhà trường cần khảo sát thay vì hứa lắp ngay. Nếu đường cấp nước, vị trí, kinh phí và việc vệ sinh cho phép, có thể bố trí một điểm tiếp nước gần sân. Nếu chưa thể làm, trường thử đặt bình nước dung tích phù hợp trong giờ ra chơi dưới sự quản lí của bộ phận phụ trách. Mỗi phương án đều phải bảo đảm vệ sinh và không cản lối đi; mong muốn giảm rác không cho phép xem nhẹ an toàn.
Kế hoạch chỉ đáng tin khi có cách đo. Nhóm quan sát lại ở cùng khu vực, cùng khung giờ và cùng năm ngày của mỗi tuần; đồng thời ghi nhận những thay đổi bất thường như ngày nghỉ hoặc căng tin đóng cửa. Mục tiêu thử nghiệm là đến tuần thứ tư, số cốc quan sát được giảm ít nhất 30% so với tuần đầu. Nếu không đạt, nhóm không vội kết luận học sinh thiếu hợp tác mà kiểm tra từng khâu: căng tin có tiếp nhận bình không, lời nhắc có đúng lúc không, điểm nước có thực sự thuận tiện không.
Một số người có thể lo cách phục vụ mới gây chậm hoặc bình cá nhân không sạch. Lo ngại ấy hợp lí và cần được đưa vào quy trình thử, không nên bị gạt đi vì ‘bảo vệ môi trường là việc tốt’. Giảm cốc dùng một lần là mục tiêu chung, nhưng giải pháp chỉ bền khi người thực hiện hiểu việc của mình, có điều kiện làm và được phép phản hồi. Bắt đầu bằng một thử nghiệm nhỏ, đo trung thực rồi sửa tiếp có thể chậm hơn khẩu hiệu; đổi lại, nó tạo ra thay đổi mà nhà trường kiểm chứng được.
Phân tích nội dung và nghệ thuật một cảnh kịch
Viết khoảng 450–550 chữ phân tích cách ánh sáng và chiếc ghế trống góp phần thể hiện xung đột trong ‘Ngọn đèn ở mũi Gió’.
- 01Gọi đúng xung đột giữa hai bổn phận.
- 02Chọn ba lần chi tiết ánh sáng hoặc ghế xuất hiện.
- 03Phân tích vị trí, thời điểm, nhịp lặp thay vì chỉ gọi ‘biểu tượng’.
- 04Nối hình thức sân khấu với điều người xem hiểu và cảm.
- 05Kết bằng giá trị của cách kết mở; không phán xử thay văn bản.
Trình bày trong ba phút một vấn đề gần gũi cần giải quyết ở lớp hoặc trường; nêu một giải pháp và cách kiểm tra hiệu quả.
- 01
Nói rõ phạm vi, người chịu ảnh hưởng và một dấu hiệu có thể kiểm tra.
- 02
Phân biệt biểu hiện với nguyên nhân; không quy lỗi cho một nhóm khi chưa có căn cứ.
- 03
Nêu ai làm, cần điều kiện gì và kết quả được đo ra sao.
- 04
Nghe một câu hỏi phản biện, nhắc lại đúng ý rồi mới trả lời hoặc thừa nhận phần cần tìm thêm.
85% trong chương, 15% nền cũ
11 câu giữ đúng kiến thức vừa học; 2 câu gọi lại nền cũ cần dùng. Không có kiến thức của chương sau.
01Kiến thức chươngSố 345 trong bài đọc chứng minh chắc chắn điều gì?
+
Nó chứng minh nhóm đã ghi nhận 345 cốc trong các thùng rác tại khu vực và thời gian mô phỏng được nêu. Nó không chứng minh toàn trường chỉ dùng hoặc thải đúng 345 cốc.
02Kiến thức chươngVì sao 24 câu trả lời chưa đại diện cho toàn trường?
+
Mẫu nhỏ, chỉ gồm những bạn vừa mua đồ uống và không cho biết đã chọn ngẫu nhiên hay chưa; kết quả chỉ gợi nguyên nhân cần kiểm tra thêm.
03Kiến thức chươngViết lại lời khuyên ‘hãy nâng cao ý thức’ thành một việc có chủ thể và thời điểm.
+
Ví dụ: Cuối mỗi buổi học trong bốn tuần, lớp đặt lời nhắc mang bình cá nhân ở góc thông báo để học sinh nhìn thấy trước khi về nhà.
04Kiến thức chươngTrong kế hoạch, tiêu chí 30% có vai trò gì?
+
Nó tạo một mốc đo cho thử nghiệm, giúp nhóm so kết quả với tuần đầu. Đây là mục tiêu cần kiểm tra, không phải lời bảo đảm chắc chắn đạt.
05Kiến thức chươngXác định nòng cốt câu: ‘Trong năm ngày, nhóm Mầm Xanh của lớp 9A ghi lại cẩn thận số cốc ở sân sau.’
+
Nòng cốt là ‘nhóm Mầm Xanh – ghi lại số cốc’; các phần còn lại bổ sung thời gian, đặc điểm, cách thức và nơi chốn.
06Kiến thức chươngCâu ‘Điểm nước ở xa nên nhiều bạn chọn mua cốc dùng một lần’ biểu thị quan hệ gì?
+
Quan hệ nguyên nhân – kết quả: điểm nước ở xa là một nguyên nhân góp phần làm lựa chọn mua cốc thuận tiện hơn.
07Kiến thức chươngSửa quan hệ nối trong câu: ‘Vì số cốc không giảm nhưng nhóm sẽ khảo sát lại.’
+
Có thể sửa: ‘Vì số cốc không giảm nên nhóm sẽ khảo sát lại’ hoặc ‘Nếu số cốc không giảm, nhóm sẽ khảo sát lại’.
08Kiến thức chươngDiễn giải có cần ghi nguồn không?
+
Có. Dù đã dùng lời của mình, ý hoặc thông tin vẫn đến từ nguồn khác nên phải nêu nguồn.
09Kiến thức chươngVì sao đổi vài từ trong một đoạn chép không đủ để tránh đạo văn?
+
Cấu trúc, cách triển khai và ý vẫn thuộc nguồn; người viết đang che việc sao chép thay vì tự hiểu, tự diễn đạt và ghi nguồn.
10Kiến thức chươngChiếc ghế trống thể hiện nội dung bằng cách nào?
+
Nó xuất hiện cạnh máy liên lạc sau tin chưa thấy Hải và được ánh sáng chiếu lặp, làm sự vắng mặt cùng cái giá trong lựa chọn của ông Lâm hiện lên trên sân khấu.
11Kiến thức chươngMột giải pháp chưa có cách đo còn thiếu điều gì?
+
Thiếu căn cứ để biết giải pháp có tạo thay đổi hay không và thiếu điểm tựa để điều chỉnh khi kết quả không như dự kiến.
12Nền cũTrong cảnh ‘Ngọn đèn ở mũi Gió’, hai giá trị tạo xung đột của ông Lâm là gì?
+
Tình cha muốn trực tiếp đi tìm Hải và trách nhiệm giữ đèn an toàn cho tàu cứu hộ cùng những con tàu khác.
13Nền cũPhân biệt điều văn bản cho biết với suy luận: ‘Chiếc ghế trống ở cạnh máy liên lạc’ và ‘chiếc ghế gợi nỗi chờ tin’.
+
Vị trí chiếc ghế là điều cảnh kịch cho biết; ý nghĩa nỗi chờ tin là suy luận của người đọc dựa trên vị trí, tin báo và nhịp ánh sáng.
Trước mỗi giải pháp, viết một dòng ‘nguyên nhân nào?’. Sau giải pháp, viết tiếp ‘ai làm – cần gì – đo thế nào?’. Nếu không điền được, ý tưởng vẫn mới là lời mong muốn.
Khi con nêu một vấn đề trong nhà hoặc ở trường, đừng hỏi ngay ‘giải pháp là gì’. Hãy cùng con tách điều nhìn thấy, điều đang đoán là nguyên nhân và điều cần kiểm tra thêm.
Chấm mối nối quan trọng hơn số lượng giải pháp. Một bài có hai giải pháp gắn đúng nguyên nhân, điều kiện và thước đo tốt hơn bài liệt kê mười khẩu hiệu. Với nghị luận văn học, yêu cầu học sinh chỉ rõ chi tiết đã tạo nghĩa bằng cách nào.
Đúng chương trình, không khóa cứng theo một bộ sách
Trục năng lực được đối chiếu Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018. Ngữ liệu trên trang do website tự biên soạn hoặc ghi rõ là ngữ liệu dân gian để luyện thao tác, không sao chép sách giáo khoa và không thay thế kế hoạch giáo dục của nhà trường.